tháng tư 2017

[Nha-hang-tiec-cuoi][slider2]

Từ xưa, kiêng kỵ trong chuyện cưới xin được ông cha ta đúc kết kinh nghiệm qua đời sống đã được truyền bá từ đời này sang đời khác. Nhứng điều kiêng kỵ mà ông cha đã truyền lại không phải là không có căn cứ. Vậy những điều kiêng kỵ đó là gì? Tìm hiểu nhé

>> Kết hôn và chuyện kết hợp với phong thủy

1. Không cưới khi nhà đang có tang



Đám cưới kiêng kỵ khi nhà đang có tang

Con cái trong gia đình phải để tang cha mẹ mình ba năm, cháu để tang ông bà 1 năm. Vì vậy trong thời gian này không thể tổ chức ăn uống vui chơi linh đình, đám cưới thì càng kiêng kỵ.

Do đó mà nếu trong nhà có người trưởng thành đã đến tuổi phải lập gia đình, nếu đợi ba năm sẽ trễ muộn thì phải cưới chạy tang nếu có cha mẹ đau ốm nặng.

Lúc này lễ cưới cũng làm đơn giản, đủ các nghi thức cần thiết dưới sự chứng kiến của những người thân thiết mà thôi. 

2. Không mời cưới khi chưa tổ chức lễ ăn hỏi

Đám hỏi rồi mới cưới xin là những thủ tục bắt buộc. Theo đó, phải sau lễ dạm hỏi thì nhà gái mới được đi mời cưới bạn bè gần xa, nếu mời trước thì bị xem như là vô duyên. Tuy nhiên, quy tắc này lại không áp dụng cho nhà trai.


Ý nghĩa của lễ dạm ngõ ngày xưa



Trước đây, gửi thiệp mời đám cưới trước khi tổ chức ăn hỏi bị xem là vô duyên

Nhưng hiện nay một số cặp đôi tổ chức hỏi và cưới liền nhau chỉ vài ngày nên bắt buộc gia đình gái phải mời khách trước, quan niệm trên vì vậy mà cũng không còn giữ được vị trí như xưa.

3. Không cưới vào năm Kim Lâu

Năm Kim Lâu là năm cô dâu có các số 1,3,6,8 trong tuổi (tính theo cách 9 ô). Quan niệm cho rằng kết hôn vào những năm này sẽ xui xẻo, hôn nhân không được bền vững và may mắn, con cái cũng không được phước lộc… Nhưng bên cạnh đó, một số người lại cho rằng vẫn có thể cưới chồng vào năm này được nếu đã qua ngày đông chí.

4. Cô dâu không được xuất hiện trước khi chú rể vào đón

Cô dâu và chú rể không gặp mặt nhau trước lễ cưới là truyền thống được duy trì nguyên vẹn cho đến ngày nay. Trước khi chú rể vào, tặng hoa và đón cô dâu ra buổi lễ chính thức thì cô dâu phải tránh đi để không bị mất duyên.

5. Không để mẹ đẻ đưa con gái về nhà chồng

Một niềm tin rằng nếu mẹ đẻ đưa con về nhà chồng thì sẽ lấn át đi quyền uy của mẹ chồng. Do đó, thường thì bố cô dâu sẽ là người đưa con sang sông.

6. Không để cô dâu có bầu đi vào nhà từ cửa chính

Rất nhiều gia đình vẫn bắt con dâu đã có thai không được đi vào bằng cửa chính mà phải đi vào cửa sau hoặc bước qua một chậu bồ kết nướng với than. Lý giải điều này để nhằm tránh cho gia đình đằng trai gặp xui xẻo sau này, nhất là trong chuyện làm ăn.

7. Mẹ chồng kiêng chạm mặt con dâu khi đoàn rước dâu vừa về tới nhà

Mẹ chồng phải cầm bình vôi lánh đi khi con dâu bước vào cửa. Ngày nay thì mẹ chồng thường thay bình vôi bằng chùm chìa khóa. Điều này có nghĩa là mẹ chồng tuy đón con dâu vào nhà nhưng vẫn nắm quyền làm chủ trong nhà. Bình vôi hay chùm chìa khóa biểu tượng cho tài sản trong gia đình.

Do đó, mẹ chồng sẽ lánh đi cho đến khi hai họ đã yên vị thì mới xuất hiện để chào hỏi và làm lễ.

8. Lưu ý đem theo kim và tiền lẻ để trải dọc đường

Kim và tiền lẻ được mẹ cô dâu chuẩn bị để cô dâu rải trên đường rước dâu, khi qua ngã ba, ngã tư và cầu, để cầu bình an, hạnh phúc, giàu sang và may mắn sau này cũng như giải trừ xui xẻo.

Thường có khoảng 7 đến 9 chiếc kim được rải trên đường đi.

Một niềm tin khác cũng cho rằng việc mang theo kim còn phòng ngừa để chữa trị cho chú rể nếu bị trúng gió bằng cách đâm vào xương cụt.

9. Kiêng đổ vỡ đồ vật trong đám cưới



Ly vỡ là điềm xấu cho ngày cưới

Đổ vỡ gương, cốc hay gãy đũa là điềm xui xẻo, báo hiệu cho cuộc sống hôn nhân không êm đềm của đôi vợ chồng trẻ. Do đó đồ vật vỡ trong đám cưới là một trong những điều kiêng kỵ.

10. Đầu giường và hai bên thành giường tân hôn không được đối chiếu với gương lớn

Gương lớn đặt ở các vị trí này sẽ gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của vợ chồng.

Ngoài ra, giường cưới cũng không được kê ở mé tây của phòng và không kê giường đối diện với cửa ra vào. Vị trí này có thể gây ra lâm lý bất an, đau đầu. Hơn nữa, giường cũng không nên kê dưới xà ngang, tuy nhiên nếu có trần giả che kín thì không sao. 


Uyên ương tự làm MC trong đám cưới, hay mở màn đám cưới bằng một trò chơi, điệu nhảy vui vẻ sẽ cách gây ấn tượng, khiến khách mời không thể quên hôn lễ của bạn.


Cách mở màn đám cưới thú vị sẽ gây ấn tượng cho khách mời. Ảnh: SV.

Trong đa số các đám cưới tại Việt Nam, khoảng 15 phút mở đầu tiệc sẽ là các nghi thức cưới quen thuộc, cô dâu chú rể cùng nhau đi lên sân khấu, cắt bánh, rót rượu, dâng rượu mời bố mẹ... Việc lặp lại kịch bản này sẽ khiến các vị khách thấy tẻ nhạt, không hứng thú theo dõi. Để gây ấn tượng trong đám cưới, uyên ương có thể thay đổi những nghi lễ chính, vẫn giữ nét trang trọng nhưng thú vị và mới mẻ hơn.

Lễ vu quy và thành hôn khác gì nhau?

Mẹo hữu dụng để có 1 đám cưới hoàn hảo

1. Thay đổi thứ tự chương trình

Khi bắt đầu tiệc cưới, MC sẽ xuất hiện và giới thiệu sự góp mặt của cô dâu chú rể. Đây là cách rất phổ biến nhưng lại không đem đến nét mới đột phá nào trong đám cưới. Thay vào đó, cô dâu chú rể có thể đánh dấu sự xuất hiện đặc biệt của mình bằng cách song ca một bài hát ngọt ngào.

Nếu không tự tin với khả năng hát của mình, cô dâu chú rể cùng bạn bè nhảy một điệu nhảy ngẫu hứng, vui vẻ và thu hút sự chú ý của khách mời. Uyên ương sẽ cần ít nhất 4 người bạn, cùng tham gia vào điệu nhảy, khuấy động không khí đám cưới, bởi nếu chỉ có cô dâu chú rể thì màn biểu diễn sẽ không thể đạt được hiệu ứng cũng như ấn tượng cần có.

Ngoài ra, một bữa tiệc cưới sẽ thân thiện, gần gũi và sôi nổi hơn khi được bắt đầu bằng một trò chơi nhỏ liên quan đến cô dâu chú rể. MC có thể dẫn dắt khách mời tham gia trả lời một số câu hỏi vui về cô dâu chú rể và chặng đường tình yêu của hai người, từ đó cũng giúp khách mời hiểu thêm về tình cảm và kỷ niệm đáng nhớ của đôi uyên ương.

2. Uyên ương tự làm MC trong đám cưới

Trong mỗi đám cưới sẽ một MC chuyên nghiệp dẫn dắt kịch bản cưới. Ưu điểm của MC chuyên nghiệp là nói năng trôi chảy, lưu loát, nhưng nhược điểm là dễ dập khuôn, không khác so với nhiều hôn lễ khách. Nếu cô dâu chú rể tự tin, hai người có thể trở thành MC cho chính đám cưới của mình.

Uyên ương sẽ là người đại diện của gia đình cảm ơn tới các khách mời và chia sẻ về câu chuyện tình yêu của họ. Với những lời giới thiệu gần gũi, tự nhiên của cô dâu chú rể, các vị khách sẽ thấy thích hơn khi nghe những câu khuôn mẫu của các MC chuyên nghiệp.

3. Làm mới nghi thức cắt bánh

Trong đám cưới truyền thống, cô dâu chú rể sẽ cùng nắm tay nhau dùng dao cắt dọc chiếc bánh cưới với ý nghĩa cùng chung tay làm mọi việc, sau đó đa số bánh cưới không được sử dụng đến.

- Để làm mới nghi thức này, bạn có thể cùng nhau ăn miếng bánh đầu tiên. Điều này thể hiện rằng từ sau đám cưới, hai người sẽ cùng nhau chia ngọt sẻ ngọt bùi trọn đời.

- Ngoài ra, bạn có thể thay việc cắt bánh bằng việc cùng nhau thắp một ngọn nến và đặt lên trên đỉnh chiếc bánh, tượng trưng cho ý nghĩa, tình yêu sẽ như ngọn nến soi đường cho đôi uyên ương dù đi đâu cũng trở về bên nhau.

- Bạn cũng có thể cùng nhau đặt ngôi nhà, đôi chim hoặc bất cứ biểu tượng hạnh phúc của hai bạn lên tầng trên cùng của bánh cưới, thay cho lời hứa sẽ cùng nhau vun đắp hạnh phúc gia đình.


Uyên ương và cha mẹ cùng rót cát để cầu mong sự hòa thuận, hạnh phúc. Ảnh: Brides.


4. Thay đổi nghi thức rót rượu

Nghi lễ truyền thống là cô dâu chú rể sẽ tay trong tay, cầm chai champagne rót vào tháp rượu đã được sắp xếp sẵn với ý nghĩa tình yêu của hai người sẽ tràn đầy, ấm nồng.

- Nếu không muốn thực hiện nghi thức cũ này, bạn có thể thay thế bằng nghi thức rót cát. Chuẩn bịi hai bình cát màu khác nhau và một chiếc lọ thủy tinh lớn, cô dâu và chú rể sẽ rót cát rót vào lọ thủy tinh để hai dòng cát hòa vào nhau. Uyên ương cũng có thể thực hiện nghi thức này cùng cha mẹ hai bên. Đây là nghi lễ phổ biến ở phương Tây với ý nghĩa đôi uyên ương sẽ hòa quyện, gắn bó như dòng cát. Bạn cũng có thể thay cát bằng những hạt cafe hay các loại hạt khô khác.

- Ngoài ra, thay vì rót rượu lên tháp ly, cô dâu chú rể có thể rót rượu dâng lên cha mẹ hai bên.

Theo Ngôi Sao

Thực tế, nhiều cô gái đã tìm thấy người tâm đầu ý hợp ngay trong đám cưới mà mình tham gia, bởi đội bê tráp nam đều là các chàng trai độc thân.

Chọn đội bê tráp đám cưới nên lưu ý gì?


Tìm hiểu mâm lễ tráp ở miền Bắc và miền Nam



1. Đội bê tráp, đỡ tráp truyền thống

Trong lễ ăn hỏi, đội bê tráp, đỡ tráp (miền Nam còn gọi là đội bưng quả) là thành phần không thể thiếu. Gia đình nhà trai sẽ chuẩn bị đội ngũ bê tráp là các chàng trai trẻ tuổi, còn người đỡ tráp của nhà gái là những cô gái trẻ, số lượng người tưng ứng với đội bê tráp nam. Nhiệm vụ của đội ngũ này đúng như tên gọi, đội nam sẽ bưng những tráp quả lễ vật từ nhà trai sang nhà gái và đội nữ thay mặt nhà gái đón nhận mâm tráp.

Yêu cầu quan trọng nhất của đội bưng tráp, đỡ tráp là tất cả các thành viên đều phải là nam thanh nữ tú chưa lập gia đình. Do vậy, trước đây mới sinh ra quan niệm, những chàng trai, cô gái thường xuyên nhận lời đi bê, đỡ tráp cho đám cưới sẽ "mất duyên", sau này khó lập gia đình. Tuy nhiên, đây chỉ là một quan niệm chưa được kiểm chứng và không có căn cứ chính xác.

Nhưng cũng vì quan niệm này mà nhiều cô gái ngại ngần không tham gia đỡ tráp vì lo lắng mình sẽ bị mất duyên. Ngược lại với suy nghĩ này, trong thực tế có nhiều cô gái đã tìm thấy ý trung nhân tâm đầu ý hợp ngay trong đám cưới mà mình tham gia, bởi đội bê tráp nam đều là những chàng trai độc thân, độ tuổi gần sát nhau.

Để các cô gái yên tâm trợ giúp cô dâu chú rể trong ngày cưới, các gia đình cũng đưa ra những giải pháp giữ lại "duyên" cho đội bưng, đỡ tráp bằng cách chuẩn bị những phong bao lì xì có chứa tiền may mắn để hai đội trả lễ cho nhau. Sau khi thủ tục trao tráp quả kết thúc, đội bê tráp nam và đỡ tráp nữ sẽ trao phong bao lì xì cho nhau trước sự chứng kiến của gia đình hai bên. Món tiền nhỏ, mang ý nghĩa tinh thần này hàm ý "lại duyên" cho các chàng trai, cô gái để sau này cuộc sống hôn nhân của họ vẫn trôi chảy, thuận lợi.

Đối với đội đỡ tráp, các cô gái không cần lo lắng tới việc "mất duyên" hay xui xẻo bởi khi tham gia vào đám cưới nào, cô cũng sẽ nhận được tiền mừng lì xì, mang may mắn đến cho mình. Đội ngũ bưng quả, đỡ tráp chỉ cần chú ý khi trao nhận lễ vật không để quả bị đổ hay rơi vỡ, gây mất vui cho buổi lễ ăn hỏi.

2. Phù dâu, phù rể hiện đại

Ở phương Tây, phù dâu, phù rể trong đám cưới là những người quan trọng chỉ sau cô dâu và chú rể. Đó sẽ là những người bạn bè thân thiết nhất của đôi uyên ương, cũng chia làm hai đội, phù dâu hỗ trợ cho nhà gái và phù rể sẽ sát cánh cùng chú rể. Nhiều cô dâu chú rể Việt Nam cũng dần tiếp thu nét văn hoa này và tìm kiếm đội phù dâu, phù rể cho đám cưới của mình, vừa giúp làm đẹp đội hình, vừa trở thành những người hỗ trợ nhiều nhất cho cô dâu chú rể. Nếu đội bê tráp có nhiệm vụ quan trọng trong lễ ăn hỏi thì phù dâu, phù rể sẽ góp mặt trong ngày đãi tiệc cưới.

Cũng như việc đội bê tráp được nhận phong bao lì xì thì cô dâu chú rể cũng nên chuẩn bị những món quà nhỏ tặng phù dâu, phù rể của mình. Đó nên là những vật phẩm mang tính tinh thần, thể hiện tình cảm bạn bè thân thiết, không nhất thiết phải là những đồ vật đắt tiền, tốn kém.

Dù trong lễ ăn hỏi truyền thống hay trong tiệc cưới mang phong cách hiện đại, thì đội bê tráp hay phù dâu, phù rể đều là những người quan trọng đối với đôi uyên ương. Cô dâu chú rể nên gặp mặt, chuyện trò với họ trước khi đám cưới diễn ra để hai bên có thể kết hợp, hỗ trợ hoàn hảo trong ngày cưới.

Nên lựa chọn đội hình bê tráp cưới như thế nào tốt nhất?

Ý nghĩa của lễ dạm ngõ ngày xưa

Tráp ăn hỏi và những ý nghĩa các lễ vật


Quy trình trao mâm quả cưới trong đám hỏi

Trong số những việc quan trọng cho lễ ăn hỏi, cô dâu chú rể không thể không để ý tới đội bê tráp của hai bên gia đình, là những người góp phần giúp lễ ăn hỏi diễn ra suôn sẻ. Việc lựa chọn các thành phần cho đội bê tráp cũng là điều bạn cần lưu ý để ngày vui diễn ra tốt đẹp nhất.



1. Số lượng người bưng quả, đỡ tráp

- Mỗi miền lại có một số lượng mâm quả khác nhau. Vì số lượng người bê tráp, bưng quả phải bằng số lượng mâm lễ vật nên tùy từng tỉnh thành, việc chọn lựa đội bê tráp sẽ khác nhau.

- Tại các tỉnh, thành từ Huế trở ra, nhà trai khi chuẩn bị đám hỏi sẽ phải chuẩn bị tráp lễ vật mà số lượng tráp là lẻ (có thể từ 3 tráp, 5 tráp, tới 11, 15 tráp). Vì vậy miền Bắc thường chọn số người lẻ.

- Ngược lại với truyền thống tại miền Bắc, các gia đình cô dâu miền Nam thường yêu cầu số lượng tráp là chẵn, mà phổ biến nhất là 6 hoặc 8 tráp (số 6 và số 8 biểu tượng cho tài lộc). Vì vậy, số lượng người trong đội bê tráp miền Nam thường là số chẵn.

- Về phía nhà trai, những người bưng mâm lễ vật phải là con trai chưa vợ, ít tuổi hơn chú rể. Về phía nhà gái, số người đỡ tráp phải tương ứng với số nam bưng mâm lễ vật từ nhà trai. Đội đón tráp này phải là con gái chưa chồng và trẻ hơn cô dâu.



2. Chọn chiều cao đội bê tráp

- Các thanh niên, thiếu nữ trong đội bê tráp nên thấp hơn cô dâu chú rể, như vậy sẽ tạo nên một đội hình bê tráp hoàn hảo. Nếu không chọn được những người thấp hơn, đôi uyên ương nên tạo điểm nhấn bằng trang phục để nổi bật.

3. Chú ý trang phục và trang điểm

- Đội bê tráp nhà trai thường mặc áo sơ mi trắng, cà vạt đỏ, quần âu, giày tây. Trang phục của đội bê tráp cũng có thể thay đổi cho phù hợp với sở thích của hai nhà. Có gia đình cầu kỳ chuẩn bị sẵn cùng áo the, khăn xếp, hoặc chỉ đơn giản là áo sơ mi, quần bò, giày thể thao cho đội nam.

- Trang phục của đội nữ đỡ tráp thường thấy là áo dài đỏ, tà áo in họa tiết đơn giản, đi kèm giày cao gót.

- Màu áo dài của đội nữ nên hợp với màu cravat của đội nam. Ví dụ, áo dài đỡ tráp màu đỏ thì cravat đội nam cũng nên là màu đỏ, còn nếu áo dài màu xanh thì cà vạt cũng nên thiên về tông xanh.

- Về trang phục và trang điểm, đội bê tráp nữ cần lưu ý chọn phong cách nhẹ nhàng với mục đích chủ yếu là làm nổi bật cô dâu. Áo dài đội bê tráp nên khác hẳn màu so với áo dài cô dâu. Nếu cô dâu mặc áo dài màu vàng thì chọn màu đỏ cho đội đỡ tráp, cô dâu mặc màu đỏ thì đội đỡ tráp mặc màu hồng, hay xanh.

Theo Ngôi Sao

Trước khi cưới, hỏi các cặp vợ chồng tương lai cũng như các bậc cha mẹ hai bên cô dâu chú rể rất chú trọng xem ngày tháng cưới hỏi để cho hợp tuổi.

Ngày cưới rất quan trọng đối với mỗi cặp uyên ương khi quyết định xây dựng hạnh phúc riêng. Nói không chỉ là để ghi nhớ, làm kỷ niệm và còn là ngày có ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống lứa đôi sau này. Chính vì vậy, từ xa xưa quan niệm xem trọng việc coi ngày cưới sao cho phù hợp với tuổi để mang lại gia hòa và hạnh phúc êm ấm.

Một số điều cần lưu ý khi chọn ngày cưới

- Thứ tự ưu tiên khi chọn Xem ngày giờ cưới hỏi bao giờ cũng theo thứ tự sau: Năm – Tháng – Ngày – Giờ.

Trong đó: năm cưới tốt là năm mà tuổi cô dâu không phạm Kim Lâu. Tức là khi lấy tuổi âm (tuổi mụ) của cô dâu chi cho 9 mà dự 1, 3, 6, 8 sẽ phạm phải năm Kim Lâu nên tránh cưới hỏi và nếu muốn cưới thì cần qua Đại Hàn.

- Đối với việc chọn ngày cưới hỏi cần xem tuổi của vợ - chồng có khắc với tháng đó hay không. - Chọn ngày: cần chú ý đến ngày Hoàng Đạo – Hắc Đạo, Trực và Sao để đảm bảo cho việc thuận về cưới hỏi. Cần xác định ngày hoàng đạo và có các sao tốt như: Thiên đức, Thiên đức hợp, Nguyệt đức, Nguyệt đức hợp, Thiên xa, Thiên hỷ, Nguyệt ân, Tam hợp, Lục hợp ... để làm ngày cưới hỏi, cầu thân.



Các ngày khắc với bản mệnh của cô dâu và chú rể như: Tam nương hay các sao xấu (Sát Thủ, Không Phòng, Tứ thời cô quản, Tai Sát… nên tránh cưới hỏi để loại trừ điều không may.

Tuổi Tý

Năm Mão sẽ là thời điểm kết hôn tốt nhất cho tuổi Tý, ngoài ra, nếu kết hôn vào năm Dậu, người tuổi Tý sẽ phát vận đào hoa, nhân duyên đặc biệt tốt. Nếu muốn tìm một bến đỗ hạnh phúc cho mình hãy lợi dụng hai thời điểm này bạn nhé. Những tuổi phù hợp với tuổi Tý là Thân, Thìn, Sửu.

Tuổi Sửu

Năm Dần sẽ là thời cơ kết hôn phù hợp cho tuổi Sửu, họ cũng có thể sẽ gặp được đối tượng phù hợp vào năm Thân. Những người hợp tuổi với người cầm tinh Sửu là Tị, Dậu, Tý đó bạn ạ.

Tuổi Dần

Tuổi Dần thích hợp đi đến hôn nhân vào năm Sửu. Họ cũng có thể tìm thấy đối tượng lý tưởng là tuổi Ngọ, Tuất hoặc Hợi vào năm Mùi đó, hãy biết tận dụng cơ hội bạn nhé.

Tuổi Mão

Năm Tý là thời điểm đẹp nhất cho tuổi Mão kết hôn, ngoài ra họ có thể tận dụng năm Ngọ rất hợp tuổi để tìm được ý trung nhân cho mình. Những người phù hợp với tuổi Mão nhất là Hợi, Mùi, Tuất.

Tuổi Thìn

Hãy chọn năm Hợi để kết hôn nhé tuổi Thìn, ngoài ra năm Tỵ họ cũng sẽ tìm được tình yêu lý tưởng đó. Cặp đôi lý tưởng cho bạn tuổi Thìn chính là Thân, Tý, Dậu.

Tuổi Tỵ

Năm Tuất sẽ là thời điểm đáng để tuổi Tỵ cân nhắc chuyện cả đời. Họ cũng có thể nhân năm Thìn để kiếm được người bạn trăm năm. Những người bạn đời lý tưởng của tuổi Tỵ sẽ là tuổi Sửu, Dần, Tuất.

Tuổi Ngọ

Năm Dậu là năm đẹp để người tuổi Ngọ dựng vợ gả chồng. Họ có thể tranh thủ cơ hội năm Mão để kiếm tìm bạn đời, chọn lựa các đối tượng phù hợp nhất trong số Dần, Tuất, Mùi bạn nhé.



Tuổi Mùi

Bạn tuổi Mùi nên xem xét kết hôn vào năm Thân để gia đình luôn êm ấm hạnh phúc nhé. Nếu còn đang độc thân hãy chú ý năm Dần để tìm được một người yêu đích thực. Họ sẽ không là ai khác ngoài tuổi Hợi, Mão, Ngọ đâu.

Tuổi Thân

Năm Mùi có thể là một chọn lựa thích hợp để kết hôn cho tuổi Thân. Họ nên nhân cơ hội năm Sửu để tìm người yêu. Một lựa chọn của trái tim với những người tuổi Tý, Thìn hoặc Mão.

Tuổi Dậu

Nếu đang băn khoăn về thời điểm kết hôn tuổi Dậu có thể cân nhắc đến năm Ngọ bạn nhé. Hơn nữa, có thể để ý hơn đến năm Tý để tìm được một người yêu thương. Người đó có thể là tuổi Tỵ, Sửu hoặc Thìn lắm đấy.

Tuổi Tuất

Năm Tỵ sẽ có ngày lành tháng tốt để tuổi Tuất kết hôn. Có khả năng cao tuổi Tuất gặp được người thương vào năm Hợi và hãy chú ý hơn đến những người tuổi Dần, Ngọ, Mão xung quanh nhé, biết đâu bạn sẽ tìm được ý trung nhân đó.

Tuổi Hợi

Năm Thìn là thời điểm đẹp cho tuổi Hợi kết hôn. Họ có thể tìm được bạn đời trong số những tuổi Mùi, Mão hay Dần vào năm Tuất đó nhé.

*Thông tin trong bài chỉ mang tính tham khảo

Mâm đựng lễ vật (hay còn gọi là tráp) là phần không thể thiếu trong mỗi lễ ăn hỏi. Tráp ăn hỏi hai miền khác nhau về số lượng mâm và lễ nhưng có chung ý nghĩa chúc phúc trường tồn cho đôi lứa.

Mâm lễ (tráp) trong lễ ăn hỏi thường có số lượng khác nhau theo phong tục của hai miền. Miền Bắc quan niệm số lẻ là đẹp nên thường chọn 5,7,9,11 tráp còn ngược lại miền Nam ưa chuộng số chẵn nên thường chọn 6,8,10 tráp.

- Miền Bắc lựa chọn số mâm quả lẻ nhưng số lễ trên mâm quả thì nhất thiết phải là số chẵn, luôn đi theo cặp, chẳng hạn như cau thì phải 100 quả, bánh cốm 100 chiếc, mứt sen trần 100 hộp...

Người xưa quan niệm số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, còn số chẵn tượng trưng cho việc có cặp có đôi. Vì thế, số lượng mâm quả và lễ vật luôn đi theo số lẻ và số chẵn với ý niệm cầu chúc và mong muốn cho cặp vợ chồng trẻ luôn luôn có nhau và cùng nhau sinh con đàn cháu đống, sống đến đầu bạc răng long.


Tráp của người miền Bắc thường được trang trí cầu kỳ, tỉ mỉ, sính lễ được bày biện thành hình tháp cao, mâm quả được kết rồng phượng.

- Miền Nam chọn số chẵn mà ưa chuộng nhất là số 6 và 8 vì có ý nghĩa lộc - phát theo phiên âm từ tiếng Hán. Trong các tráp, số lượng vật phẩm lại phải là lẻ, biểu tượng cho sự sinh sôi, ngụ ý chúc phúc con cái đề huề cho đôi lứa xứng đôi.

Tráp của người miền Nam thường được đựng trọn trong mâm sơn son thếp vàng, phủ khăn đỏ kín đáo. Dù về số lượng sính lễ cũng tương đương với tráp của miền Bắc song về hình thức trong giản dị và nhẹ nhàng hơn.


Tráp của người miền Nam có sự khác biệt hẳn về hình thức với miền Bắc.

Tráp ăn hỏi bao gồm những gì?

Tráp ăn hỏi của miền Bắc tùy theo số lượng mà thêm bớt các loại sính lễ khác nhau song về cơ bản vẫn phải có 3 tráp chính là:

- Tráp trầu cau

- Tráp chè

- Tráp hạt sen.

Nếu số lượng tráp tăng lên có thể thêm các tráp:

- Tráp bánh cốm/ bánh xu xê/ bánh đậu xanh

- Rượu thuốc

- Hoa quả

- Xôi gấc đậu xanh

- Lợn quay

- Bia lon

Tráp ăn hỏi của người miền Nam cũng tương tự người miền Bắc cũng gồm 4 tráp lễ vật cốt yếu là:

- Tráp trầu cau

- Tráp bánh phu thê (bánh gói lá dứa)

- Tráp lợn quay

- Tráp tiền dẫn cưới (lễ đen)

Ngoài ra tùy theo số lượng tráp tăng lên mà có thêm các lễ vật sau:

- Rượu thuốc

- Hoa quả

- Xôi

- Chè

- Bánh gato

- Tráp sính lễ cho cô dâu. Thông thường nếu nhà trai có điều kiện kinh tế sẽ chuẩn bị một tráp đựng áo dài và đồ trang sức dành riêng cho cô dâu. Trong lễ ăn hỏi, cô dâu sẽ mặc áo dài và trang sức do nhà trai mang đến dành tặng mình. Sau đó mới ra chào hỏi quan họ hai bên và sau đó làm lễ trước bàn thờ tổ tiên.


Tiếp theo phần 1. Cẩm nang cưới hỏi xin giới thiệu các thuật ngữ trong cưới hỏi thường được dùng trong đám cưới Việt. 



Vật dụng, đồ đạc

Nhẫn

Nhẫn đính hôn: theo phong tục phương Tây nam thường quỳ xuống trao nhẫn đính hôn có gắn kim cương cho nữ, đồng thời ngỏ lời cầu hôn. Ở Việt Nam hiện nay cũng có một số trường hợp, do ảnh hưởng của phương Tây, đã lưu tâm hơn đến việc mua sắm nhẫn đính hôn trước khi cưới và thường trao trong lễ ăn hỏi.

Nhẫn cưới: trước kia nhẫn cưới chỉ nhẫn riêng cho nữ. Từ sau thế chiến 2 nhẫn cưới làm theo cặp thường giống nhau hoặc hơi khác nhau nhưng gợi nhớ đến nhau (ví dụ hình thức giống nhau, nhưng nhẫn của nam không gắn đá). Nhẫn được làm bằng kim loại quý (như vàng, bạch kim) trơn hoặc có gắn đá quý chủ yếu là kim cương gắn chìm. Nhẫn được trao vào ngày cưới.

Nhẫn kỷ niệm ngày cưới: nhẫn được các đôi vợ chồng mua nhân kỷ niệm ngày cưới, thường làm giống nhau và có gắn đá quý.

Nhẫn khi làm mẹ: một số nước phương Tây, như vùng Scadinavia phụ nữ thường đeo ba nhẫn trong đó có nhẫn đính hôn, nhẫn cưới và một chiếc nhẫn khi bắt đầu làm mẹ.

Thiệp

Thiệp cưới: thiệp thường làm màu đỏ tuy hiện nay nhiều nơi thiên về các màu nhẹ nhàng hơn như màu hồng, màu kem, màu vàng dịu. Thiệp được trang trí trang nhã và ghi nội dung cô đọng nhưng trang trọng. Thiệp dùng để mời cưới và thường chia thành vài loại tuy hình thức giống nhau nhưng ghi chữ khác nhau: mời khách của cha mẹ vợ, mời khách của cha mẹ chồng (ghi là đến "dự lễ thành hôn của hai con chúng tôi", mời khách của vợ, chồng chỉ ghi đến "dự lễ thành hôn của hai chúng tôi".

Thiệp báo hỉ: Trong trường hợp không mời cưới, đôi dâu rể có thể gửi thiệp báo hỉ để báo tin vui với bà con, bạn bè thân thiết thông báo họ đã là vợ chồng của nhau.

Tư trang

Trang điểm cưới: là thủ tục trang điểm chủ yếu dành cho cô dâu (đôi khi có cả cha, mẹ, chú rể cũng đi trang điểm nhưng không được coi là trang điểm cưới). Mục đích trang điểm nhằm làm tôn vinh vẻ đẹp của cô dâu lộng lẫy nhất trong ngày vu quy trọng đại của cuộc đời. Trang điểm cưới thường tiến hành tại các studio kiêm luôn ba việc: trang điểm, cho thuê váy cưới và chụp ảnh cưới, tuy nhiều khi cô dâu cũng thuê người trang điểm tại nhà. Trang điểm cưới, cũng tương tự như các hình thức trang điểm dành cho những lễ hội cầu kỳ, thường bao gồm làm tóc, kết hoa trên tóc, tô son, đánh phấn.

Váy cưới: làm theo kiểu châu Âu, thông dụng nhất hiện nay là sử dụng màu kem với hoa trang trí nhẹ nhàng. Váy cưới thường được thuê tại các studio chuyên cho thuê, hoặc may.

Áo dài cưới: áo dài cưới thường làm màu đỏ có các chữ song hỷ vàng, thường được cô dâu mặc trong ngày cưới đi kèm khăn xếp. Trong lễ ăn hỏi các cô gái nhận tráp cũng mặc áo dài màu đỏ (có thể có các chữ song hỷ vàng), nhưng không được coi là áo dài cưới và không đội khăn.

Của hồi môn: thường là vàng, tiền hoặc đồ đạc có giá trị được gia đình cha mẹ vợ trao tặng cho con gái khi con gái đi lấy chồng. Tuy nhiên, hiện nay của hồi môn có khi gọi khái quát để chỉ cả những vật dụng có giá trị cha mẹ vợ dành tặng cho chàng rể, hoặc mẹ chồng tặng con dâu trong ngày cưới.




Biểu trưng

Chữ song hỷ: chữ được cắt cách điệu, dán trên tất cả những vật dụng liên quan đến ngày cưới (như các lễ vật), xe hoa, xe đón dâu v.v.

Biểu trưng lễ cưới khác: có thể là đôi chim bồ câu, hình trái tim v.v.

Phòng cưới và giường cưới

Phòng cưới: căn phòng ngủ của hai vợ chồng sau lễ cưới. Trước ngày cưới gia đình thường chuẩn bị đồ đạc trong phòng cưới bao gồm giường cưới, đệm, chăn, ga, gối, bàn phấn, tủ dựng quần áo. Trong ngày cưới phòng được trang trí trang trọng với hoa kết đầu giường, tủ, cánh cửa v.v. Phòng thường không được cho người vào trước thời điểm chú rể đón dâu về. Sau khi chú rể đón dâu về thường thắp hương gia tiên, sau đó cho cô dâu ngồi (nằm) trên giường cưới chụp ảnh một số kiểu ảnh lấy may.

Giường cưới: được các đôi lứa đặc biệt quan tâm chọn mua trước ngày cưới. Giường cưới thường làm gỗ tốt, rộng rãi. Sau khi đã lắp đặt cẩn thận thường người ta tối kỵ di chuyển vị trí của giường, nhất là khi nhà có phụ nữ đang mang thai.

Chiếu cưới: thường mua cả đôi (dù khi trải chiếu chỉ trải một chiếc). Chiếu được một người phụ nữ "mát tay", mắn con, sinh con có cả trai cả gái và nuôi dạy con tốt trải một chiếc lên giường và một chiếc cuộn ở đầu giường. Sau khi trải chiếu, phòng cưới thường được đóng lại để không có người lạ leo lên nghịch ngợm. Hiện nay, song song với trải chiếu cưới là trải chăn, ra giường, gối, đệm. Thủ tục trải chiếu cưới, trong các nghi thức cưới hỏi, được đặc biệt quan tâm.

Gối cưới: trước kia là một gối đôi dài thường được thêu rất cầu kỳ, tinh tế (như đôi chim bồ câu, chữ song hỷ). Nay thường thay bằng hai gối ngắn.

Vật dụng khác

Tráp, mâm hay quả cưới: là các hộp hoặc mâm gỗ sơn son thếp vàng, bày lễ vật trong lễ ăn hỏi hoặc lễ cưới.

Trầu cau theo phong tục cũ của sự tích trầu cau.

Ảnh cưới: trước kia do đời sống còn khó khăn, ảnh cưới chỉ khái quát các ảnh chụp tại lễ cưới nói chung. Hiện nay khái niệm ảnh cưới chỉ còn thiên về ảnh cưới tại các studio chuyên trang điểm, chụp ảnh cưới và cho thuê váy cưới.

Bánh cưới: thường là bánh ga tô được xếp theo tầng, đôi dâu rể sẽ cắt bánh cưới trong lễ cưới, tượng trưng cho lời chúc may mắn, tốt lành trong cuộc sống sau này, nhất là đời sống tình dục và sinh con đẻ cái.

Tháp rượu: tháp xếp ly, có thể cho đá khô tạo khói khi rót rượu. Đôi dâu rể sẽ rót tràn ly trong lễ cưới với một chai rượu Sâm panh, mục đích nhấn mạnh ý nghĩa việc làm chung của hai vợ chồng, sự đồng lòng chung sức trong cuộc sống gia đình sau này.

Xe hoa: là xe nhà trai đưa đến nhà gái đón dâu. Xe hoa đa dạng, theo truyền thống có thể là xe ngựa kéo. Nay chủ yếu là xe ô tô bốn chỗ có kết hoa.

Hoa cưới: gọi chung bó hoa cô dâu cầm (hoa tay) và hoa gắn áo chú rể. Hai loại hoa này thường cùng loại. Trước kia hoa cưới thường có màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng của cô dâu, nhưng hiện nay màu sắc của hoa đa dạng hơn. Tuy nhiên, khi đặt hàng hoa kết hoa ngày cưới, hoa cưới được chỉ tất cả các loại hoa: hoa tay, hoa áo chú rể, hoa trang trí phòng cưới, hoa kết trên xe hoa, hoa kết cổng chào với bóng bay, thậm chí cả hoa bày trên các bàn trong tiệc cưới.

Phông cưới: phông trang trí chữ song hỷ, tên tuổi cô dâu chú rể, ngày giờ cưới. Tại nhà gái phông sẽ ghi là "Lễ vu quy". Tại nhà trai ghi: "Lễ thành hôn". Trong lễ báo hỉ phông được ghi dòng chữ "Lễ báo hỉ"

Tiệc cưới: là tiệc tổ chức bên nhà trai và nhà gái, thường là tiệc mặn, tiệc ngọt hoặc tiệc đứng tuy tiệc đứng ít được ưa chuộng.

Họ hàng, người giúp việc

Chú rể, cô dâu: tên gọi đôi trai gái trong ngày cưới hoặc sát ngày cưới. Sau ngày cưới gọi là đôi vợ chồng trẻ.

Thông gia: chỉ cha mẹ họ hàng bên kia, nơi có người đã cưới con nhà mình. Liên quan đến thông gia là những khái niệm cha vợ, mẹ vợ, cha chồng, mẹ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ.

Ông mai, Bà mai: những người làm mai mối tác thành cho đôi lứa. Hiện nay, cưới hỏi không còn theo quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nên vai trò của ông mai bà mai đã giảm xuống hoặc không còn cần thiết.

Phù dâu: những cô gái trẻ chưa chồng đi theo cô dâu để giúp cô dâu trong ngày cưới.
Phù rể: những chàng trai trẻ chưa vợ giúp chú rể trong ngày cưới.

Nhà trai: thuật ngữ dùng trong ngày cưới hoặc ngày ăn hỏi chỉ họ hàng bên nhà chú rể.
Nhà gái: chỉ họ hàng bên nhà cô dâu.

Ly hôn

- Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;

- Vậy việc ly hôn phải do Tòa án quyết định mới có giá trị pháp lý. Các quyết định của tòa án có thể là Quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án cho phép ly hôn.

- Đơn xin ly hôn có thể do một trong hai vợ chồng ký (đơn phương) hoặc do cả hai vợ chồng cùng thuận tình ký (thuận tình) đều có giá trị.

- - Việc tòa án chấp thuận cho ly hôn không nhất thiết phải có đủ chữ ký của hai vợ chồng trong đơn ly hôn.

- Khi một trong hai hoặc cả hai vợ chồng muốn ly hôn cấn nộp đơn lên tòa án cấp quận huyện nơi cư trú để xin ly hôn.

Khái niệm khác

Mùa cưới: chỉ mùa trong năm có số lượng đám cưới được tổ chức rất đông. Tùy theo địa phương, mùa cưới thường diễn ra vào thời điểm khí hậu mát lành nhất trong năm. Ở miền Bắc Việt Nam mùa cưới thường là mùa thu hoặc mùa xuân tuy hiện nay các lễ cưới thường diễn ra quanh năm, chỉ hơi ít hơn một chút trong mấy tháng mùa hè.

Ngày cưới: còn gọi là ngày thành hôn, là thuật ngữ chỉ chính xác ngày đón dâu, đưa dâu, và tổ chức lễ thành hôn. Ngày cưới thường được nhà trai xem xét kỹ lưỡng từ trước để chọn ngày tốt. Nhiều gia đình theo phong tục truyền thống trước kia thường tổ chức tiệc mặn vào thời điểm trước ngày cưới để mời khách. Ngày cưới chỉ còn dành cho dâu rể, gia đình, bè bạn thân thiết, nhằm tiến hành các nghi thức và thủ tục theo phong tục cổ truyền và thường không có tiệc mặn, chỉ uống nước, ăn trầu cau và bánh kẹo. Tuy nhiên, hiện nay nhiều gia đình tổ chức có tính kết hợp gọn gàng, ngày cưới bao gồm cả đãi tiệc khách mời tại khách sạn, nhà hàng hoặc gia đình.

Sính lễ: những sản phẩm có giá trị vật chất được nhà trai mang sang nhà gái khi hỏi vợ.

Môn đăng hộ đối: theo quan niệm của hôn nhân thời phong kiến, môn đăng hộ đối chỉ gia đình nhà trai, nhà gái tương xứng với nhau về mặt địa vị xã hội và tài sản, đều là gia đình quyền quý và giàu có như nhau.


Tỏng hợp

Thuật ngữ cưới hỏi là các thuật ngữ, các thủ tục, nghi thức, vật dụng liên quan đến kết hôn, đám cưới, đám hỏi, ly hôn của người Việt. 

Hôm nay, Cẩm nang cưới hỏi giới thiệu cho các bạn những thuật ngữ cưới hỏi thường được dùng trong người Việt 




1. Đăng ký kết hôn

Đăng ký kết hôn là những thủ tục tại cơ quan công quyền nhằm công nhận đôi nam nữ là vợ chồng hợp pháp trước pháp luật.

Tờ khai đăng ký kết hôn: là tờ khai mà mỗi người trong đôi nam nữ khai các thông tin cá nhân, xác nhận tình trạng kết hôn tại chính quyền khu vực nơi cư trú hoặc nơi công tác (tuy hiện nay xác nhận của nơi công tác chỉ có giá trị đối với người trong lực lượng vũ trang), và mang đến ủy ban nhân dân hoặc cơ quan đại diện ngoại giao tại nước ngoài để được xem xét cấp giấy chứng nhận kết hôn. Tờ khai này mỗi bên nam hoặc nữ đều phải làm một tờ nhằm lấy xác nhận của chính quyền nơi cư trú cả hai người.

Giấy chứng nhận kết hôn: giấy do chính quyền địa phương nơi một trong hai người (nam hoặc nữ) có hộ khẩu thường trú cấp, để công nhận đôi nam nữ đó chính thức là vợ chồng trước pháp luật. Giấy được làm hai bản chính, vợ và chồng mỗi người giữ một bản chính có giá trị pháp lý như nhau.

Sổ đăng ký kết hôn: là sổ lưu tại cơ quan chính quyền địa phương (như ủy ban nhân dân phường, xã), ghi ngày tháng đăng ký kết hôn, tên tuổi, chữ ký của vợ và chồng nhằm lập cơ sở dữ liệu hộ tịch.




2. Các nghi lễ, thủ tục

Chạm ngõ: là nghi thức gặp gỡ hai bên gia đình, dụng ý lần đầu tiên được biết nhau một cách công khai, chính thức. Từ đó thỏa thuận, tiến tới tác thành, xây dựng cho hai con. Đồ lễ mang sang nhà gái thường là trầu, cau, rượu, chè. Một số nơi gọi là Lễ bỏ trầu cau.

Lễ ăn hỏi: nhà trai mang lễ vật sang nhà gái hỏi vợ. Lễ vật đựng trong các tráp phủ vải điều màu đỏ, thường có trầu, cau, rượu, chè, bánh cốm, bánh xu xê, mứt sen, xôi, thủ lợn, lợn sữa quay.

Lễ đính hôn: về mặt ngữ nghĩa lễ đính hôn, hay lễ cầu hôn tương đương lễ ăn hỏi (hỏi vợ) của người Việt, tuy phương Tây thường thịnh hành phong tục trao nhẫn đính hôn đính kim cương hoặc đá quý cùng lời cầu hôn.

Lễ vấn danh: nhằm hỏi tên tuổi (vấn danh), so đôi lứa để xem xét xung, hợp của đôi trai gái đồng thời nhằm có dữ kiện để chọn ngày giờ tốt cho các nghi thức, thủ tục cưới hỏi. Lễ vấn danh cũng bao gồm những lễ vật tương tự lễ ăn hỏi tuy có thể ít hơn và giản dị hơn. Cô gái nhà nào đã nhận lễ vấn danh coi như đã có chồng (dù chưa cưới). Hiện nay trong Lễ cưới người Việt lễ vấn danh kết hợp trong lễ ăn hỏi.

Lễ nạp tài: nhà trai mang sính lễ sang nhà gái. Đồ sính lễ gồm trầu cau, gạo nếp, thịt lợn, quần áo và đồ trang sức cho cô dâu. Lễ nạp tài hiện nay trong phong tục lễ cưới người Việt đã kết hợp một phần vào lễ ăn hỏi (lễ vật ăn hỏi) và một phần vào trong lễ cưới (trao của hồi môn).

Lễ xin dâu: trước giờ đón dâu, mẹ chú rể hoặc một hai bà cô, bà dì, họ hàng thân thích (nữ) sang nhà gái để xin được đón dâu. Lễ vật trong lễ cưới người Việt thường là tráp đựng trầu têm cánh phượng.

Đón dâu: nhà trai đưa đoàn sang nhà gái đón dâu về, thường đi bằng xe.

Lễ vu quy: diễn ra tại nhà gái, nơi tiễn cô dâu đi lấy chồng.

Lễ thành hôn: còn gọi là lễ cưới nói chung, tuy vẫn thiên về chỉ lễ cưới chính thức tại nhà trai.

Lễ tơ hồng: lễ khấn ông Tơ bà Nguyệt và cao đường (cha mẹ), diễn ra tại nhà trai. Thường chỉ có người thân thích, sau khi khách mời đã ra về hết.

Lễ tân cô: Lễ vu quy thường diễn ra hai ngày. Ngày hôm trước gọi là nhóm họ. Ngày hôm sau là đưa dâu. Buổi tối ngày nhóm họ sẽ diễn ra Lễ tân cô, cô dâu sẽ lạy tạ tổ tiên ông bà, nói lời cảm ơn hai đấng sinh thành của mình và anh chị em ruột, cô bác ruột sẽ tặng quà cho cô dâu.

Mâm trầu hôm:Tối ngày hôm trước của Lễ đón dâu, chú rễ đưa một mâm có một đĩa trầu cau và một bình rượu sang nhà gái đưa lên bàn thờ tổ tiên để cúng.Mâm lễ vật này gọi là mâm trầu hôm. Mục đích chính của việc đưa mâm trầu hôm là xem cô dâu có còn ở nhà gái không đế sáng đón dâu. Trước đây do hôn nhân là do cha mẹ hai bên định chứ không do quyết định của con cái nên có nhiều trường hợp vì phản đối quyết định của cha mẹ mà cô dâu trốn khỏi nhà. Việc đưa mâm trầu hôm ngày nay hầu như không còn nữa. Nếu còn thì không còn mang ý nghĩa như trên.

Lễ hợp cẩn: Đây là buổi lễ kết thúc đám cưới tại nhà trai. Trước giường có bàn bày trầu rượu và một đĩa bánh phu thê (sau này ta đọc thành bánh xu xê). Ông cụ già đứng lên rót rượu vào chén rồi mời đôi vợ chồng cùng uống, phải cùng cạn chén, cùng ăn hết cái bánh không chia cho ai, không để thừa. Sau đó mọi người ra ngoài, để hai vợ chồng cùng tâm sự. Ở một số nhà khá giả, thiên về hoạt động văn hoá, thì những bạn bè văn chương chữ nghĩa với chàng rể còn mang hoa, thắp đền sáng rực trong phòng hợp cẩn. Họ cũng ca hát, gây tiếng động, hoặc vỗ tay, đập các khúc gỗ vào nhau. Do đó mà sau có chữ động phòng hoa chúc.

Lễ báo hỉ: thường là tiệc mặn hoặc ngọt tổ chức sau nghi lễ cưới chính thức tại quê quán của cô dâu hoặc chú rể, hoặc nơi ở của cha mẹ vợ, cha mẹ chồng, trong trường hợp quá xa ông bà, cha mẹ không thể xuống dự đám cưới với con cháu được.

Lễ lại mặt: là lễ do chú rể mang về nhà gái sau ngày cưới từ 2 đến 4 hôm như một lời cảm ơn bên thông gia.

Lễ phản bái: Hay còn gọi Lễ giở mâm trầu diễn ra ở nhà gái hôm thứ 3 kể từ hôm đón dâu. Trong lễ đón dâu bao giờ cũng có một mâm trầu và mâm cau (thường bỏ trong cái quả phủ vải hồng). Một thủ tục không thể thiếu trong Lễ phản bái là giở mâm trầu và mâm cau.Nếu trầu còn xanh tốt là điềm lành, còn trầu bị thối cuốn người ta dị nghị cô con dâu không biết giữ gìn. Nếu không có lễ phản bái thì chủ hôn sẽ xin phép họ nhà gái cho cô dâu và chú rễ giở mâm trầu và mâm cau trong lễ đón dâu.

Lễ cheo: lễ vật hoặc kinh phí nộp cho làng, xóm có con gái đi lấy chồng, với dụng ý để xóm làng tiếp thu thêm thành viên mới, tế bào mới của làng. Lễ cheo có thể tiến hành trước nhiều ngày, hoặc sau lễ cưới một ngày. Hiện nay nhiều nơi đã không còn giữ phong tục này.

Tuần trăng mật: chỉ những ngày đầu tiên sau hôn lễ. Nhiều cặp vợ chồng trẻ có điều kiện thường tổ chức đi chơi du lịch tuần trăng mật tới những địa điểm có phong cảnh hữu tình. Tuần trăng mật cũng là thời điểm nghỉ ngơi cho cặp vợ chồng trẻ sau những ngày căng thẳng tiến hành hôn lễ.


Tổng hợp

Vu quy thường được dùng cho nhà gái và thành hôn, tân hôn được dùng cho nhà trai trong việc thông báo đám cưới cho họ hàng bạn bè người thân. 

Trong cách lựa chọn từ ngữ để in trên thiệp cưới, phông cưới, nhiều cô dâu chú rể thường băn khoăn và bối rối. Có gia đình lựa chọn in chữ "Thành hôn" trên tất cả các bản in ấn, phông, thiệp... Một số khác lại cho như vậy không đúng mà cần chia rõ ràng từ ngữ dành cho nhà trai và cho nhà gái riêng. Các bạn nên biết một số thuật ngữ trong đám cưới, để giúp cô dâu chú rể hiểu thêm về các từ ngữ này và lựa chọn đúng.

1. Ý nghĩa

- Vu quy: Là lễ đưa con gái về nhà chồng. Đây là danh từ được dành riêng cho cô dâu và thường được sử dụng trên phông cưới, bảng hiệu treo tại nhà gái. Trong lễ Vu quy, cô dâu chú rể sẽ thắp hương trên bàn thờ tổ tiên và bái lạy cha mẹ để tỏ lòng hiếu thảo.

- Tân hôn: Là nghi lễ đón cô dâu mới, để chỉ lễ kết hôn và đón dâu tại nhà trai. Danh từ này đặc biệt quen thuộc tại các tỉnh phía Nam và thường được sử dụng ở phông, biển treo ở nhà trai.


Với nhà gái, các gia đình dùng chữ "Vu quy" để chị ngày cưới trọng đại. Ảnh: HONEY BEES (TP HCM).

- Thành hôn: Trước kia, danh từ này dành để chỉ buổi tiệc đãi khách chung ở nhà hàng tiệc cưới, khách sạn của cả hai gia đình, chỉ việc tác thành cho đôi uyên ương. Thông thường, từ "Thành hôn" được in trên thiệp cưới của cả gia đình cô dâu và chú rể. Nhưng hiện nay, danh từ này được sử dụng phổ biến ở miền Bắc, tại gia đình nhà trai để chỉ việc đón dâu.

2. Cách sử dụng

Theo cách giải nghĩa như trên, danh từ "Vu quy" được sử dụng riêng tại nhà gái. Chỉ khi cô dâu chuẩn bị về nhà chồng mới gọi là vu quy. Còn gia đình chú rể tổ chức lễ cưới cho con trai, đón con dâu về nhà thì sử dụng từ "Thành hôn" ở các loại phông chữ, bảng hiệu.

3. Lựa chọn từ ngữ đối với thiệp mời

Với thiệp mời khách, cô dâu chú rể nên bàn bạc với cả hai gia đình về kiểu chữ cũng như từ ngữ trên thiệp. Nhiều gia đình kỹ tính bắt buộc thiệp nhà gái phải ghi rõ "Lễ Vu quy", còn nhà trai phải có chữ "Lễ Thành hôn". Nhưng thực tế điều này không quan trọng, mà chủ yếu do thỏa thuận giữa hai nhà.

Nếu có nhầm lẫn và thời gian gấp gáp không thể sửa được, cô dâu chú rể cũng không nên quá căng thẳng vì việc này không ảnh hưởng nhiều tới không khí của hôn lễ, không nên cãi nhau vì chi tiết nhỏ nhặt này. Khách mời cũng sẽ không chú ý nhiều tới từng câu chữ trong thiệp mà điều họ quan tâm tới địa điểm, thời gian nên đôi uyên ương cần chú ý kỹ về lỗi chính tả cũng như thông tin chính xác.

Theo Ngôi Sao

Casual là một thuật ngữ khá phổ biến trong ngành nhà hàng – khách sạn. Vậy bạn có biết Casual là gì?

Nhà hàng tiệc cưới là gì

Wedding Planner là gì

Thực đơn tiệc cưới là gì

Chụp hình, ảnh cưới là gì

Nhẫn cưới là gì

Casual là gì?

Trong ngành nhà hàng – khách sạn, casual là nhân viên thời vụ chuyên phục vụ bàn cho các tiệc cưới, hội nghị hoặc bộ phận bếp. Vì là công việc thời vụ nên rất thích hợp với các bạn sinh viên mong muốn đi làm thêm vào dịp cuối tuần.


Ảnh nguồn Internet

Đa phần nhân viên casual thường làm việc cho bộ phận phục vụ bàn tiệc cưới, hội nghị của các nhà hàng – khách sạn. Hiện nhu cầu tuyển dụng nhân viên casual vẫn rất lớn, đặc biệt là vào mùa cưới. Với tiệc trong nhà, nhân viên có thể nhận được mức lương 70.000 – 110.000 đồng/ tiệc và bao cơm 1 bữa. Nhân viên casual phục vụ tiệc ngoài trời được trả lương khoảng 240.000 – 260.000 đồng/ ngày và hỗ trợ phương tiện đi lại. Casual được nhận lương ngay sau khi kết thúc công việc.

Đó là chỉ là mức lương cơ bản mà các nhân viên casual có thể nhận được, ngoài ra với những bạn đăng ký làm casual thường xuyên có thể nhận được mức lương cao hơn và tiền tip từ khách hàng. Nhân viên casual làm việc dưới sự quản lý của trưởng nhóm casual. Những bạn có nhiều kinh nghiệm làm casual, có khả năng điều hành, quản lý sẽ được làm trưởng nhóm casual.

Công việc của nhân viên casual tiệc

Công việc chính của nhân viên casual trong mỗi buổi tiệc đứng là phục vụ đồ uống, dọn những bát đĩa ly đã sử dụng và thực hiện các yêu cầu của khách trong buổi tiệc.

Với tiệc ngồi, khi bắt đầu tiệc, nhân viên casual rót đồ uống cho khách và lần lượt mang các món ăn theo trình tự thực đơn và tốc độ ăn của khách. Trong quá trình phục vụ món ăn, nhân viên casual sẽ thu gọn những dụng cụ ăn uống đã sử dụng và bổ sung những dụng cụ thay thế khi khách có nhu cầu. Mỗi nhân viên casual sẽ chịu trách nhiệm phục vụ một số bàn được chỉ định.

Kết thúc tiệc, nhân viên casual có nhiệm vụ thu dọn tất cả những dụng cụ ăn uống và làm vệ sinh tại những khu vực bàn được phân công. Trong quá trình phục vụ tiệc, nhân viên casual được yêu cầu phải phục vụ nhiệt tình và chu đáo với mọi khách dự tiệc để tạo ấn tượng tốt với khách và không làm ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ chung của nhà hàng tiệc cưới.



Một đám cưới lãng mạn luôn là niềm mơ ước của mọi đôi lứa sau khi đã cùng nhau bước qua mọi thăng trầm, mọi cung bậc cảm xúc của tình yêu. Và chắc chắn một điều rằng một đám cưới lãng mạn không thể thiếu âm nhạc, thiếu những ca khúc mừng đám cưới để niềm hạnh phúc được thăng hoa trọn vẹn.




Các ca khúc tiếng anh

Beautiful In White - Shane Filan
We Belong Together - Mariah Carey
Love To Be Love By You - Marc Terenzi
I Knew I Loved You - Savage Garden
From This Moment On - Shania Twain
Your Man - Josh Turner
Tonight I Celebrate My Love For You - Peabo Bryson, Roberta Flack
Until You - Shayne Ward
How Did I Fall In Love With You - Backstreet Boys
My Love - Westlife
Everything - Michael Buble
A Thousand Years - Christina Perri
Thank God I Found You - Mariah Carey, Joe, Degrees
Only Love - Trademark
Can't Take My Eyes Off You - Clay Aiken
Find Me A Baby - Josh Turner
You're Still The One - Shania Twain
I Will Always Love You - Whitney Houston
I'm Yours - Jason Mraz
Forever - Mariah Carey

Các ca khúc tiếng Việt thường được nghe

1. Đám cưới như mơ
2. Thuyền Hoa
3. Người đến từ Triều Châu
4. Hỏi vợ ngoại thành
5. Lời tỏ tình dễ thương
6. Mãi mãi bên nhau
7. Mừng ngày cưới
8. Ngày cưới hạnh phúc
9. Ngày hạnh phúc
10.Hoàng tử trong mơ
11.Rước dâu miệt vườn
12.Rước tình về với quê hương
13.Rượu cưới ngày xuân
14.Thương nhau lý tơ hồng
15.Đám cưới trên đường quê
16.Trai tài gái sắc
17.Từ trái tim đến trái tim
18.Túp lều lý tưởng
19.Vui trong mùa cưới

Các ca khúc nhạc trẻ mới tiếng Việt

1. Cô Dâu
2. Làm Vợ Anh Nhé
3. Cám Ơn Nhé Tình Yêu
4. Ngày Chung Đôi
5. Vợ Tuyệt Vời Nhất
6. Cám Ơn Đêm Nay
7. Cảm Ơn Tình Yêu
8. Ngày Cưới
9. Anh
10. Ngày Hạnh Phúc

11. Qua Đêm Nay

Hi vọng các bạn sẽ thích list bài hát đám cưới này
Tổng hợp

Đám cưới

[Dam-cuoi][fbig1]

Đám hỏi

[Dam-hoi][fbig2]

Kế hoạch đám cưới

[Ke-hoach-cuoi][fbig1]

Nhà hàng tiệc cưới

[Nha-hang-tiec-cuoi][hot]

Nghi thức đám cưới

[Nghi-thuc-dam-cuoi][fbig1]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.