Articles by "Nghi-thuc-cuoi-hoi"

[Nha-hang-tiec-cuoi][slider2]
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghi-thuc-cuoi-hoi. Hiển thị tất cả bài đăng

Trong ngày cưới, cô dâu có rất nhiều việc phải làm, rất nhiều tục lệ phải theo, ví như việc cài kim vào áo khi đi trên đường hay về cửa nhà bước qua hỏa lò cũng vậy.

Tuổi đính hôn

- Con giai con gái độ mười lăm, mười sáu tuổi giở lên, đã là tuần sắp sửa lấy vợ lấy chồng. Hai ba mươi tuổi mới cưới gọi là muộn. Cũng có nhà cưới cho con từ năm mười hai, mười ba tuổi, có nhà ước hôn với nhau từ trong thai.

Tục vợ chồng cứ hơn kém nhau một hai tuổi là vừa đôi.

Dạm hỏi

- Trước hết kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau, mới mượn mối lái. Mối lái nói với cha mẹ người con gái bằng lòng gả rồi, nhà giai mới đem cau đem chè đến dạm.

Từ đó thì mồng năm ngày Tết hoặc là ngày kỵ nhật nhà gái, người rể phải đưa đồ lễ vật đến mới là trọng thể. Cách ít lâu thì làm lễ ăn hỏi: nhà giai đem cau chè, lợn xôi đến nhà gái lễ gia tiên, có nhà dùng cách giản tiện thì chỉ dùng cau, chè, mứt mà thôi. Ở Quảng Nam thì trong lễ ăn hỏi thường lại thêm một đôi hoa tai vàng nữa.


Sêu

- Ăn hỏi rồi mới sêu. Sêu thì mùa nào thức ấy, như mùa vải thì sêu vải, mùa dưa thì sêu dưa, v.v.
Có nơi một năm chỉ sêu bốn mùa. Tháng Ba sêu vải; tháng Năm sêu dưa hấu, đường, mắm, chim, ngỗng; tháng Chín sêu hồng, cốm, gạo mới, chim ngói; tháng Chạp thì sêu cam, mứt, bánh cốm. Đồ sêu nhà gái lấy một nửa, còn một nửa giả lại nhà giai gọi là đồ lại mặt.

Cưới

- Sêu xong một năm hoặc nửa năm thì cưới, cũng có khi phải sêu hai ba năm mới được cưới. Nếu không sêu mà xin cưới thì là thiếu lễ, người ta chê cười, mà nhà gái không mấy người nghe.
Trao thơ, thách cưới

- Trước khi muốn cưới thì đôi bên nhà giai và nhà gái đều quang quẻ cả mới được, nghĩa là người chủ hôn không có tang chế gì. Cưới thì nhà giai viết thư hỏi xem nhà gái ăn những lễ vật thế nào.
Nhà gái muốn những thức gì thì viết thư giả lời nhà giai. Nhà giai liệu thể lo được thì mới chọn ngày lành tháng tốt, đính ước ngày cưới với nhà gái. Nếu nhà gái lấy lễ nặng quá thì nhà giai xin bớt đi ít nhiều. Nhà gái không nghe thì có khi lại hoãn việc lại. Mà nhà giai bất đắc dĩ phải lo thì có khi vì thế mà hai bên sui gia sinh ra oán ghét nhau.


Hình minh họa 

Đồ thách cưới thì đại để: bao nhiêu lợn gạo, hoặc ăn bò thì thách bò, bao nhiêu chè, bao nhiêu cau, bao nhiêu rượu, vòng, nhẫn, hoa, hột, quần áo, chăn màn, và kèm theo thêm bao nhiêu bạc, v.v.

Tùy hơi thành thị, quê mùa, nhà giàu nhà nghèo, ăn nhiều ăn ít, nhưng đại khái cũng trong những khoản ấy.

Đám cưới

- Về vùng nhà quê, ở cùng hương thôn với nhau, cưới thường đi về đêm. Lúc đi, phải chọn giờ hoàng đạo mới đi, và phải có một người đàn ông dễ tính ra đón ngõ trước, khi ra thì reo ầm cả lên rằng gặp giai, để cho mọi việc được dễ dàng mau mắn.

Trong đám cưới có một ông già (kén ông nào hiền lành, mà vợ chồng còn song toàn, lắm con nhiều cháu mới tốt) cầm một bó hương đi trước, rồi đến các người dẫn lễ, kẻ đội mâm cau, người khiêng lợn rượu, v.v. Chú rể thì khăn áo lịch sự, có một đám thân thích dẫn đi. Khi đến nhà vợ, dàn bày đồ lễ, người chủ hôn nhà gái khấn lễ gia tiên rồi thì người rể vào lễ.

Tế tơ hồng

- Bày hương án ra sân, dùng lễ gà, xôi, giầu, rượu, tế tơ hồng, rồi hai vợ chồng đều vào lễ.

Điển tế tơ hồng do chuyện ngày xưa, bên Tàu có một người tên là Vi Cố, một bữa đi chơi giăng, gặp một ông già đang xe các sợi dây đỏ ở dưới bóng giăng. Hỏi thì ông ấy nói rằng ta là Nguyệt Lão coi việc xe duyên cho vợ chồng nhân gian, ta đã buộc sợi dây này vào chân người nào thì dù thế nào cũng phải lấy nhau.

Vì thế ta cho việc vợ chồng là có ông Nguyệt Lão định trước, cho nên thành vợ thành chồng rồi thì phải tạ ơn ông ấy, và cầu ông ấy phù hộ cho ở được trăm năm với nhau.

Tế tơ hồng rồi thì người rể vào lạy cha mẹ vợ (tục ấy người theo lối văn minh bây giờ không chịu). Rồi đợi cho họ hàng ăn uống xong mới về.

Đưa dâu

- Sáng hôm sau thì đưa dâu, nhà giai nhà gái cùng ăn mừng, làm cỗ bàn, mời bà con khách khứa. Bà con khách khứa mừng nhau thì kẻ mừng tiền, người mừng chè, cau, hoặc là câu đối đỏ, v.v. Mà thường chỉ mừng bên nhà giai, chớ không mấy nơi mừng bên nhà gái, duy ở thành phố thì có mừng bên nhà gái, nhưng chỉ mừng cho người con gái hoặc một vài vuông nhiễu điều, hoặc may sẵn thành yếm mà thôi.

Đưa dâu, nhà gái cũng kén một ông già cầm bó hương đi trước, rồi bà con họ hàng dẫn cô dâu đi sau. Đến nhà giai rồi thì một vài bà già dẫn cô dâu vào lạy gia tiên, rồi đưa đi lễ nhà thờ đôi bên bố chồng mẹ chồng. Đoạn giở về mới lạy cha mẹ chồng, hoặc còn ông bà chồng cũng lạy. Ông bà cha mẹ chồng, mỗi người mừng cho một vài đồng bạc hoặc một vài chục.

Họ hàng ăn uống xong thì lấy phần. Phần phải có xôi thịt, bánh trái, giò chả, cau chuối mới là cỗ cưới.

Ở thành phố thì thách cưới thường nặng hơn ở nhà quê, mà không có lệ đi ăn cưới đêm. Cưới ban ngày xong thì đón dâu về ngay.

Trong khi cưới và khi đón dâu, hai ông già cầm hai cái lư hương ngồi xe che lọng xanh đi trước, rồi các kẻ dẫn lễ, nào người đội mâm cau trùm vải tây đỏ, nào kẻ khiêng chóe rượu, khiêng quả phù trang. Trước còn đi bộ, ít nay đám thì đi toàn xe cao su, đám nào khoe sĩ diện thì đi toàn xe song mã.

Lễ bái cũng như cách nhà quê. Ăn xong cũng có phần, phần có những bánh đường bánh ngọt, lại thêm một cái khăn mặt đỏ để gói phần. Sau lại có bánh giầy bánh chưng chia biếu những người quen thuộc nữa.

Phương thuật

- Trong khi cô dâu đi đường, ăn mặc tốt đẹp e thiên hạ quở quang, phải cài vài cái kim vào choàng áo, để có ai độc mồm độc miệng, thì đã có kim ấy trấn áp đi. Có nơi lại đặt hỏa lò giữa cửa cho cô dâu bước qua, cũng là ý ấy. Cũng có nơi dâu mới đến cửa, mẹ chồng cầm bình vôi tránh đi một lúc, có nơi dâu mới đến cửa, một người lấy chày cối giã một lúc, tục ấy thì ngộ quá, không hiểu ý làm sao.

Đóng cửa, giăng dây

- Trong khi cưới và lúc đưa dâu, lại có tục đóng cửa, giăng dây. Lúc nhà giai đem lễ cưới đến nhà gái thì bên nhà gái, hoặc trẻ con, hoặc đứa đầy tớ, đóng cửa không cho vào. Nhà giai phải cho chúng nó dăm ba hào, một đồng bạc, thì chúng nó mới mở cửa.

Trong lúc đi đường thì những kẻ hèn hạ hoặc lấy sợi chỉ đỏ, hoặc mảnh vải, lụa đỏ giăng ngang giữa đường, đám cưới đi đến, phải nói tử tế mà cho chúng nó vài hào, thì chúng nó mới cởi dây cho đi.


Chỗ thì chúng nó bày hương án, chờ đi đến, đốt một bánh pháo ăn mừng, chỗ ấy phải đãi chúng một vài đồng mới xuôi. Nếu bủn xỉn mà không cho chúng nó tiền, thì chúng cắt chỉ cắt dây nói bậy nói bạ, chẳng xứng đáng cho việc vui mừng, vì vậy đám nào cũng phải cho.

Tục giăng dây này có đã lâu. Về đời Huyền Tôn, ngươi Đường Thiệu đã dâng biểu nói rằng: ngày người ta đón dâu, những kẻ hèn hạ thường hay lấy xe ngăn trở đường đi, đòi cỗ bàn ăn uống.

Tục ấy mỗi ngày một thịnh, đến nỗi các đám cưới của nhà vương công, chúng nó cũng tụ họp đàn lũ, che lấp đường đi, làm cho lôi thôi thì giờ, để đòi tiền của, thành ra tiền giăng dây nặng hơn tiền cưới, xin cấm hết đi mới được, xem vậy thì tức là tục giăng dây của ta bây giờ.

Giao duyên

- Tối hôm cưới, người chồng lấy giầu trăm (giầu tế tơ hồng), trao một nửa cho vợ, rót một chén rượu, mỗi người uống một nửa, gọi là lễ hợp cẩn. Vợ giải chiếu lạy chồng hai lạy, chồng đáp lại vái một vái. Tục ấy nhà đại gia mới dùng đến, nhà thường thì không mấy người dùng.

Lại mặt

- Cưới được ba hôm, đến hôm thứ tư thì hai vợ chồng làm lễ chè xôi đem về nhà vợ lạy gia tiên, gọi là lễ lại mặt, chữ gọi là tứ hỉ.

* Bài viết được biên tập theo sách Việt Nam phong tục của tác giả Phan Kế Bính, Nhã Nam với mục đích chia sẻ thêm nhiều kiến thức về các phong tục cổ xưa của dân gian Việt Nam.

Mâm quả cưới là một trong những nét đẹp truyền thống trong ngày cưới được dân tộc ta lưu truyền và gìn giữ từ xa xưa cho đến tận ngày nay. 

Có nguồn gốc từ lễ nạp tài, mâm quả ngày cưới do nhà trai gửi đến nhà gái được xem như món quà đầu tiên thể hiện tấm chân thành của nhà trai, như một lời mở đầu cho sự kết giao giữa hai nhà, cho một mối quan hệ mới bắt đầu.

Nghi lễ này làm cho đôi vợ chồng trẻ cảm nhận rõ sự thiêng liêng và trách nhiệm của mình đối với gia đình nói chung và hôn nhân của mình nói riêng.



Mâm quả ngày cưới gồm những gì?

Mâm quả cưới thứ 1 Trầu cau
Mâm quả cưới thứ 2 Trái cây
Mâm quả cưới thứ 3 Bánh cốm/ Bánh phu thê
Mâm quả cưới thứ 4 Trà và rượu
Mâm quả cưới thứ 5 Gà – Xôi – Heo quay
Mâm quả cưới thứ 6 Quần áo
Mâm quả cưới thứ 7 Tiền đen/ Tiền cheo

Ý nghĩa riêng của từng mâm quả đám hỏi

Mâm quả cưới thứ 1 – Trầu cau: 

Tượng trưng cho sự sắt son bền chặt mà tất cả các cuộc hôn nhân đều hướng đến.

Mâm quả cưới thứ 2 – Trái cây: 

Ngụ ý mong cho tình yêu, cuộc sống của đôi uyên ương mới sẽ ngọt ngào, tươi mới suốt cả cuộc đời.

Mâm quả cưới thứ 3 – Bánh cốm/bánh phu thê: 

Các loại bánh có những giai thoại xoay quanh câu chuyện về tình nghĩa vợ chồng, ngụ ý hòa hợp, thủy chung.

Mâm quả cưới thứ 4 – Trà và rượu: 

Dùng để dâng lên bàn thờ tổ tiên, để ông bà tổ tiên về chứng giám cho đôi trẻ và cũng là để xin phép tổ tiên cho đám cưới được diễn ra vui vẻ, hạnh phúc.

Mâm quả cưới thứ 5: Gà và xôi: 

Màu đỏ và sự dẻo dai của xôi gấc ngụ ý cho lời chúc vợ chồng son sắt, yêu thương nhau. Đây là lễ vật làm đem lại may mắn, sự sung túc trong quan niệm của nhiều người.

Heo quay: Tượng trưng cho sự dư dả, sung túc và tài lộc. Ngoài ra còn có quan niệm đây là lời chúc mong cho cô dâu chú rể sớm có em bé và mau phát tài.

Mâm quả thứ cưới 6 – Quần áo: 

Mang ý nghĩa khi về nhà chồng, cô dâu sẽ được chăm lo kĩ lưỡng và có cuộc sống no đủ, hạnh phúc trọn đời.

Mâm quả thứ 7 – Tiền đen/tiền cheo: 

Nhiều ý kiến cho rằng tiền đen tượng trưng cho sự thách cưới của nhà gái đối với nhà trai. Một giải thích khác cho rằng đây là khoản nhà trai đóng góp để lo tổ chức lễ cưới, ngụ ý rằng tất cả đã được chuẩn bị chu đáo. Những món nữ trang là phần dành cho cô dâu làm vốn, sau khi đám cưới có thể yên tâm xây dựng tổ ấm, không sợ đối mặt với cảnh thiếu thốn.

Theo phong tục khác nhau của các miền mà sính lễ cũng như các thủ tục trong lễ ăn hỏi có sự khác biệt với nhau. Vì vậy tùy theo phong tục mà nhà trai và nhà gái đi đến thống nhất cho lễ ăn hỏi được diễn ra chu đáo và thành công.

Lễ ăn hỏi là phần nghi thức quan trọng nhất trong nghi lễ cưới hỏi của người Việt. Đây là nghi lễ quan trọng nhất bởi đó là lời thông báo chính thức việc hứa hôn cho hai con giữa hai gia đình nhà trai và nhà gái. Lễ ăn hỏi cũng được tổ chức chu đáo với sự góp mặt của đông đảo họ hàng và bạn bè của hai bên gia đình.


Lễ ăn hỏi là dịp thông báo chính thức về việc cưới hỏi của hai bên gia đình.

Ăn hỏi gồm những gì?

Ăn hỏi là dịp thể hiện sự chu đáo của nhà trai với nhà gái. Mâm đựng lễ vật (hay còn gọi là tráp) là phần không thể thiếu trong mỗi lễ ăn hỏi. Tráp ăn hỏi hai miền khác nhau về số lượng mâm và lễ nhưng có chung ý nghĩa chúc phúc trường tồn cho đôi lứa.

Nhìn vào số lượng mâm quả và các vật lễ trên mâm quả cưới, người ta có thể đoán được sự chu đáo, sự giàu có, sung túc của nhà trai. Đồng thời cũng thể hiện sự "cao giá" của nhà gái, vì thế lễ ăn hỏi thường được chuẩn bị rất chu đáo và kỹ càng.

Để biết được số lượng mâm quả trong lễ ăn hỏi, nhà trai và nhà gái sẽ bàn bạc kỹ lưỡng trong lễ dạm ngõ. Theo cách gọi của ông bà ta xưa, nhà gái sẽ đưa ra lời “thách cưới”, bao nhiêu mâm quả (hay còn gọi là tráp), những loại lễ vật gì và lễ dẫn cưới (tiền mặt) là mấy lễ, mỗi lễ là bao nhiêu.

Lễ ăn hỏi là nghi lễ vô cùng quan trọng trong đám cưới.

Tuy nhiên hiện nay lệ thách cưới không còn nữa, các gia đình đều tùy theo điều kiện kinh tế của nhau để đưa ra số lượng tráp trung bình phù hợp với mặt bằng chung của vùng miền. Ngoài tráp còn có một phong bì tiền nhà trái đưa cho nhà gái được gọi là "lễ đen".

Lễ đen (lễ dẫn cưới) thể hiện lòng kính trọng của nhà trai đối với công ơn dưỡng dục của cha mẹ cô dâu vì người xưa quan niệm rằng nhà trai sau lễ cưới được thêm người, còn nhà gái thì ngược lại. Mặt khác lễ vật cũng biểu thị sự quý mến, yêu thương của nhà trai dành cho cô con dâu tương lai.

Lễ đen thường được đựng trong 3 bao lì xì đỏ do mẹ chú rể đưa cho mẹ cô dâu. Số tiền trong "lễ đen" cũng phù thuộc kinh tế của gia đình nhà trai, trung bình từ 1.000.000 - 10.000.000 đồng/phong bì.



Lễ đen được mẹ chú rể trao cho mẹ cô dâu, thể hiện sự trân trọng của nhà trai dành cho nhà gái.

Ăn hỏi gồm bao nhiêu tráp?

Mâm lễ (tráp) trong lễ ăn hỏi thường có số lượng khác nhau theo phong tục của hai miền. Miền Bắc quan niệm số lẻ là đẹp nên thường chọn 5,7,9,11 tráp còn ngược lại miền Nam ưa chuộng số chẵn nên thường chọn 6,8,10 tráp.

- Miền Bắc lựa chọn số mâm quả lẻ nhưng số lễ trên mâm quả thì nhất thiết phải là số chẵn, luôn đi theo cặp, chẳng hạn như cau thì phải 100 quả, bánh cốm 100 chiếc, mứt sen trần 100 hộp...

Người xưa quan niệm số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, còn số chẵn tượng trưng cho việc có cặp có đôi. Vì thế, số lượng mâm quả và lễ vật luôn đi theo số lẻ và số chẵn với ý niệm cầu chúc và mong muốn cho cặp vợ chồng trẻ luôn luôn có nhau và cùng nhau sinh con đàn cháu đống, sống đến đầu bạc răng long.

Tráp của người miền Bắc thường được trang trí cầu kỳ, tỉ mỉ, sính lễ được bày biện thành hình tháp cao, mâm quả được kết rồng phượng.

- Miền Nam chọn số chẵn mà ưa chuộng nhất là số 6 và 8 vì có ý nghĩa lộc - phát theo phiên âm từ tiếng Hán. Trong các tráp, số lượng vật phẩm lại phải là lẻ, biểu tượng cho sự sinh sôi, ngụ ý chúc phúc con cái đề huề cho đôi lứa xứng đôi.

Tráp của người miền Nam thường được đựng trọn trong mâm sơn son thếp vàng, phủ khăn đỏ kín đáo. Dù về số lượng sính lễ cũng tương đương với tráp của miền Bắc song về hình thức trong giản dị và nhẹ nhàng hơn.

Tráp ăn hỏi bao gồm những gì?

Tráp ăn hỏi của miền Bắc tùy theo số lượng mà thêm bớt các loại sính lễ khác nhau song về cơ bản vẫn phải có 3 tráp chính là:


  • Tráp trầu cau
  • Tráp chè
  • Tráp hạt sen.


Nếu số lượng tráp tăng lên có thể thêm các tráp:


  • Tráp bánh cốm/ bánh xu xê/ bánh đậu xanh
  • Rượu thuốc
  • Hoa quả
  • Xôi gấc đậu xanh
  • Lợn quay
  • Bia lon


Tráp ăn hỏi của người miền Nam cũng tương tự người miền Bắc cũng gồm 4 tráp lễ vật cốt yếu là:


  • Tráp trầu cau
  • Tráp bánh phu thê (bánh gói lá dứa)
  • Tráp lợn quay
  • Tráp tiền dẫn cưới (lễ đen)


Ngoài ra tùy theo số lượng tráp tăng lên mà có thêm các lễ vật sau:


  • Rượu thuốc
  • Hoa quả
  • Xôi
  • Chè
  • Bánh gato
  • Tráp sính lễ cho cô dâu. 


Thông thường nếu nhà trai có điều kiện kinh tế sẽ chuẩn bị một tráp đựng áo dài và đồ trang sức dành riêng cho cô dâu. Trong lễ ăn hỏi, cô dâu sẽ mặc áo dài và trang sức do nhà trai mang đến dành tặng mình. Sau đó mới ra chào hỏi quan họ hai bên và sau đó làm lễ trước bàn thờ tổ tiên.

Đặt tráp ăn hỏi ở đâu?

Hiện nay các dịch vụ cưới hỏi trở nên nở rộ khắp cả nước cung cấp đủ các loại nhu cầu cưới hỏi dù là khó tính nhất của khách hàng. Khách hàng có thể yêu cầu bất cứ hình thức tráp lễ nào theo mong muốn cá nhân hoặc theo đặc thù gia đình đều có thể được đáp ứng.


Bố vợ sẽ trao cho con rể đôi giày của cô dâu để chuyển giao trách nhiệm, và chú rể sẽ gõ giầy lên trán cô dâu để khẳng định 'chủ quyền'.

Ở châu Âu, đặc biệt là ở vương quốc Anh, đám cưới không chỉ là buổi lễ của riêng gia đình mà còn mang nét văn hóa rõ rệt. Mỗi gia đình châu Âu lại duy trì các phong tục cưới với niềm tin rằng các điều truyền thống đó sẽ mang đến may mắn, hạnh phúc cho đôi uyên ương trong suốt cả cuộc đời sau này.



1. Lời cầu hôn

Ở các thế kỷ trước, nghi lễ chú rể hỏi cưới cô dâu là một lễ nghĩa chính thức. Chú rể sẽ tới nhà cô dâu và tặng trang sức hoặc các đồ quý giá như quà để xin cưới. Nếu trên đường đi, người nhà chú rể gặp một người đàn ông mù, một thầy tu, hoặc một người đàn bà mang bầu thì người ta cho rằng đám cưới sẽ có kết cục bi đát. Tuy nhiên, nếu họ nhìn thấy con dê cái, chim bồ câu hay chó sói thì đám cưới sẽ rất hạnh phúc, suôn sẻ.

Trước đó, vào thời Trung Cổ, người đàn ông cầu hôn bằng cách đặt một cành táo gai trước cửa nhà người yêu của mình vào ngày mồng 1/5. Nếu cô gái vẫn để nguyên cành táo trước cửa thì có nghĩa là cô chấp nhận lời cầu hôn của chàng trai. Còn nếu cô từ chối, cô sẽ thay cành táo bằng một cành súp lơ.

2. Tên họ

Người châu Âu nói chung quan niệm nếu một người phụ nữ cưới một người đàn ông có họ có chữ cái đầu giống như họ của cô ấy thì sẽ là điều xui xẻo. Quan điểm này được thể hiện trong câu hát:

Nếu đổi tên mà họ lại không đổi chữ cái
Thì cũng giống như chỉ đổi lấy điều xui xẻo chứ không phải điều tốt đâu

(To change the name and not the letter
Is to change for the worst and not the better)

3. Chọn ngày

Mặc dù ngày nay, hầu hết các đám cưới đều diễn ra vào ngày thứ Bảy, nhưng trong quá khứ điều này bị xem là điều không may mắn. Ngày thứ Sáu cũng là ngày không tốt, đặc biệt là thứ Sáu ngày 13 mỗi tháng. Một bài vè cổ nổi tiếng khuyên người ta chỉ nên làm đám cưới vào nửa đầu của tuần:

Thứ Hai là ngày của Của cải  
Thứ ba là ngày của Sức khỏe 
Thứ Tư là ngày tốt nhất 
Thứ Năm là ngày mất mát
Thứ Sáu là ngày đau khổ
Thứ Bảy là ngày tận số

(Monday for wealth
Tuesday for health
Wednesday the best day of all
Thursday for losses
Friday for crosses
Saturday for no luck at all)

Tháng Năm vẫn luôn được xem là tháng kém may mắn cho việc cưới xin vì rất nhiều nguyên nhân. Vào thời kỳ Pagan, mùa hè bắt đầu với lễ hội Beltan (lễ hội vào ngày 1/5) được tổ chức rất vui vẻ và tưng bừng. Vì thế đây không phải là thời điểm thích hợp để bắt đầu cuộc sống lứa đôi. Vào thời Roman ngày hội của người chết và lễ hội của những vị thần trinh trắng đều diễn ra vào tháng Năm. Người ta cũng tránh cưới vào mùa ăn chay Lent, diễn ra vào tháng Ba.

Tháng Sáu là một tháng rất may mắn cho việc cưới xin, vì tháng này được đặt tên theo vị thần Juno, vị thần Tình yêu và hôn nhân của La Mã. Nói chung cả mùa hè được xem là thời điểm tốt để tổ chức hôn lễ bởi người ta tin rằng ánh nắng mặt trời rất tốt cho việc sinh con đẻ cái. Ở Scotland, người ta có một phong tục rất thú vị là cô dâu phải "bước đi cùng ánh nắng mặt trời" để có được may mắn. Cô dâu phải bước đi từ phía Đông cho tới phía Tây của nhà thờ và sau đó tiếp tục đi vòng quanh nhà thờ ba lần trước khi đám cưới được cử hành.



4. Một chút gì cũ, một chút gì mới

Một chút gì cũ , một chút gì mới
Một chút gì đi mượn
Một chút gì màu xanh
Và trong giày một đồng bạc trong giày cô dâu

(Something old, something new, something borrowed, something blue)

"Một chút gì cũ" có nghĩa là đôi uyên ương sau khi cưới vẫn tiếp tục là bạn tốt của nhau. Thông thường, "một chút gì cũ" sẽ là một chiếc bít tất cũ của một người phụ nữ có cuộc hôn nhân hạnh phúc tặng lại cho cô dâu, để truyền hạnh phúc của mình sang cô dâu mới.

"Một chút gì mới" thể hiện tương lai hạnh phúc và thịnh vượng của cặp vợ chồng mới.

"Một chút gì đi mượn" thường là những đồ quý giá của của gia đình cô dâu cho mượn. Để gặp may mắn, cô dâu phải mang trả lại những đồ này sau khi cưới.

Phong tục cô dâu phải mặc "một chút gì màu xanh" bắt nguồn từ đất nước Israel cổ khi cô dâu thường cài một dải ruy băng màu xanh da trời trên tóc để thể hiện sự chân thành của mình.

Ngày nay, các cô dâu thường để một đồng 1 xu vào trong giày trong suốt buổi lễ để đảm bảo sự giàu có cho cuộc sống của vợ chồng trẻ.

5. Váy cưới

Hầu hết các cô dâu ngày nay đều vận đồ màu trắng, thể hiện sự trong sáng, tinh khiết của cô dâu. Truyền thống mặc váy cưới màu trắng này bắt nguồn từ những người giàu có ở thế kỷ thứ 16. Nữ hoàng Victoria đã ủng hộ cho phong tục này bằng cách mặc chiếc váy màu trắng trong đám cưới. Nhưng trước khi truyền thống này bắt đầu, cô dâu thường chỉ diện bộ váy đẹp nhất của mình.

Ngoài ra cô dâu không được tự may váy cưới cho mình, và chú rể không được nhìn cô dâu trong trang phục cưới trước khi hôn lễ diễn ra.



6. Mạng che mặt

Mạng che mặt bảo vệ cô dâu khỏi những linh hồn xấu. Theo những mê tín cũ, cô dâu vào ngày cưới rất dễ bị tấn công bởi những linh hồn xấu vì thế mạng che mặt nhằm mục đích bảo vệ cô dâu.

Mạng che mặt trở nên phổ biến ở Anh và châu Âu vào những năm 1800 thể hiện sự khiêm nhường và trinh trắng. Chú rể không được phép nhìn mặt cô dâu cho tới sau lễ cưới.

7. Hoa cưới

Hoa luôn là vật trang trí không thể thiếu trong tất cả các đám cưới. Nhiều người lựa chọn hoa cưới theo ý nghĩa biểu tượng của loài hoa đó. Tuy nhiên, ngưòi ta kiêng kết hợp màu hoa trắng và hoa đỏ vì chúng tượng trưng cho máu và bông băng.

Hoa cài trên ngực áo chú rể thường cũng là loại hoa cầm tay của cô dâu. Phong tục này là dấu tích của thời kỳ các Hiệp sĩ thường mặc cùng màu áo với người phụ nữ anh ta yêu để thể hiện tình yêu của mình.

8. Trên đường đến lễ cưới

Khi cô dâu đã sẵn sàng rời nhà để đến lễ cưới, nhìn lại một lần cuối vào gương sẽ mang lại may mắn. Tuy nhiên, khi cô dâu bắt đầu khởi hành mà lại quay trở lại để soi gương thì sẽ gặp xui xẻo.

Trên đường đi, nếu thấy một người thợ cạo ống khói đang cạo bồ hóng thì sẽ rất may mắn, vì thế người ta còn thuê hẳn một người thợ cạo dự tiệc cưới của mình. Những dấu hiệu may mắn khác như: cừu non, mèo đen, cóc, nhện và cầu vồng. Ngược lại, những dấu hiệu xui xẻo là: lỗ huyệt, lợn, thằn lằn, hay nghe tiếng gà trống gáy sau bình minh. Cả thầy tu và các bà xơ cũng là những dấu hiệu xấu vì họ là những người nghèo khó.

9. Phù dâu

Phù dâu thường mặc giống cô dâu cũng để đánh lạc hướng các linh hồn xấu.

10. Vật mua sắm đầu tiên

Người nào mua vật đầu tiên sau lễ cưới sẽ là người có vai trò làm chủ trong gia đình. Vì thế các chú rể thường mua ngay trâm cài đầu của các cô phù dâu ngay sau lễ cưới để đảm bảo vị trí của mình.

11. Bánh cưới

Ngày nay, cắt bánh cưới là một động tác quen thuộc trong các lễ cưới. Cả hai vợ chồng cùng cắt bánh cưới để thể hiện họ sẽ cùng chia sẻ tương lai với nhau.

Ngày xưa người ta thường ném thật nhiều bánh ngọt vào người cô dâu như cách chúng ta tung hoa giấy ngày nay. Ngưòi châu thường đặt một chiếc nhẫn ở trong bánh cưới. Vị khách nào ăn được khoanh bánh có nhẫn thì sẽ gặp hạnh phúc trong cả năm. Vị khách độc thân nào đặt một mẩu bánh dưới gối khi đi ngủ thì sẽ sớm tìm được người yêu, còn các cô phù dâu làm như thế thì sẽ mơ về chồng tương lai của mình.

>> Cắt bánh cưới có nghĩa gì

12. Hoa giấy 

Confetti bắt nguồn từ tiếng Italy và có nghĩa là loại kẹo mà người Ý dùng để tung lên đôi vợ chồng mới cưới khi họ ra khỏi nhà thờ, như cách chúng ta sử dụng hoa giấy ngày nay. Nhiều nơi người ta dùng cả nho khô và cúc áo, cánh hoa, các loại ngũ cốc.


13. Giày cưới

Phong tục nổi tiếng nhất liên quan đến giày của người châu Âu là buộc giày ra sau chiếc xe cưới. Một phong tục khác là người bố vợ sẽ trao cho con rể tương lai một đôi giày của cô dâu để chuyển giao trách nhiệm, và chú rể sẽ gõ giầy lên trán cô dâu để khẳng định quyền "làm chủ" của mình.

14. Tung hoa cưới

Sau buổi lễ, cô dâu sẽ tung bó hoa cưới qua vai ra đằng sau chỗ các cô gái chưa chồng. Cô gái nào bắt được bó hoa thì sẽ là cô dâu tiếp theo. Chú rể thì sẽ tung nịt bít tất của cô dâu vào đám thanh niên chưa vợ. Ai bắt được cũng sẽ là chú rể tiếp theo.

>> Tung hoa cưới có nghĩa gì

15. Bước qua ngưỡng cửa

Sau đám cưới, cô dâu sẽ đi vào nhà mới cưới qua cổng chính. Theo truyền thống, chú rể phải bế cô dâu qua cửa lần đầu tiên. Có nhiều lý giải khác nhau. Người thì nói rằng cô dâu sẽ xui xẻo nếu bị ngã khi bước vào nhà. Người thì cho rằng nếu cô dâu bước vào bằng chân trái đầu tiên thì cũng không may. Cách tốt nhất để tránh cả hai điều này là chú rể bế cô dâu qua cửa.

16. Tuần trăng mật

Cụm từ "Tuần trăng mật" bắt nguồn từ thời kỳ mà người đàn ông thường bắt cóc vợ chưa cưới của mình, và cả hai sẽ trốn trong nhà trước khi cưới. Đôi trẻ sẽ tiếp tục trốn ở trong nhà thêm một chu kỳ quay của mặt trăng nữa, và trong thời gian này họ sẽ uống rượu mật ong.

Ở Scotland, người ta thuê một phụ nữ đang có sữa để dọn giường cưới, cầu chúc đôi vợ chồng con đàn cháu đống. Ở Ireland, người ta trói một con gà mái đẻ vào chân giường đêm tân hôn cũng với mục đích tương tự. Ngoài ra, ăn quả trứng có 2 lòng đỏ cũng sẽ giúp đôi vợ chồng con cái đuề huề.

Trước kia, cô dâu chú rể thường trao nhau vàng và những đồng bạc trong hôn lễ, sau đó phong tục này được thay bằng việc trao nhẫn. 


10 điều thú vị về bản thân thông qua đám cưới

Có rất nhiều phong tục cưới đã xuất hiện từ lâu, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguồn gốc của chúng. Hầu hết những phong tục trong đám cưới đều nhằm mang tới điều tốt lành, tránh rủi ro cho các đôi uyên ương. Theo trang Wedding and Flower, khi hiểu rõ những quan niệm này, cô dâu chú rể sẽ cảm thấy hôn lễ của mình càng ý nghĩa, trọng đại hơn.

1. Khăn voan vốn có ý nghĩa để che chở cho cô dâu tránh khỏi những linh hồn hay ghen tị với niềm hạnh phúc của mọi người.

2. Trước kia, chú rể thường buộc những chiếc giày ở phía đuôi chiếc xe hoa đón dâu, nhưng ngày nay mọi người thích dùng những chiếc lon nhỏ thay thế, ngoài ra hiện nay uyên ương thích trang trí thêm hoa tươi ở trước mũi và tay cầm của xe.

3. Khách mời thường bắn pháo giấy, tung cánh hoa để chào đón cô dâu chú rể, nhưng trong đám cưới truyền thống, khách mời sẽ tung gạo vào uyên ương như lời cầu mong thịnh vượng trong suốt cuộc sau này.


Sau khi nghi lễ thành hôn kết thúc, khách mời sẽ chúc phúc uyên ương bằng màn bắn pháo giấy hoặc tung cánh hoa. Ảnh: GW.

4. Quan niệm phương Đông cho rằng mưa trong ngày cưới là điều may mắn, nhưng với phương Tây lại ngược lại, họ cho rằng trời mưa là điều không tốt, không chỉ vì khách mời có thể ướt nhẹp và cuộc sống của cô dâu chú rể sau này cũng ảm đạm. 

5. Một trong những điều mọi người cảm thấy kém may mắn nhất là chú rể nhìn thấy cô dâu mặc váy cưới trước ngày hôn lễ. Điều này bắt nguồn từ thời phong kiến, khi mà các cuộc hôn nhân sắp đặt còn phổ biến, nên chú rể sẽ không được biết cô dâu của mình là ai mà phải chờ tới tận hôn lễ.

6. Có một phong tục lãng mạn sau đám cưới, đó là khi xuống xe hoa, chú rể sẽ bế cô dâu bước qua ngưỡng cửa nhà. Điều này được lý giải vì các linh hồn xấu sẽ đợi sẵn trước cửa và bám theo gót chân cô dâu để theo vào nhà nên chú rể cần giữ cho chân cô dâu không chạm đất tới khi đã vào tới ngôi nhà an toàn.

7. Một số phụ kiện, trang phục của cô dâu thường dựa vào sự mê tín từ xa xưa. Cô dâu chọn váy cưới màu trắng vì tin rằng sắc màu này tượng trưng cho sự trong trắng, tinh khôi. Ngoài ra, có một câu nổi tiếng để chỉ những phụ kiện cô dâu cần có là: "Something old, something new, something borrowed, something blue and a silver sixpence in her shoe", nghĩa là "Một chút gì cũ , một chút gì mới, một chút gì đi mượn, một chút gì màu xanh và một đồng 6 xu trong đôi giày".

"Một chút gì cũ" sẽ là món đồ gia truyền của bà, mẹ hay những người phụ nữ lớn tuổi trong gia đình truyền lại, mong tặng hạnh phúc tới cô dâu mới.

"Một chút gì mới" là món đồ do cô dâu tự mua, mà thường là nước hoa, để cầu mong sự thịnh vượng trong cuộc sống mới.

"Một chút gì đi mượn" thường là những đồ quý giá của của gia đình cho mượn. Để gặp may mắn, cô dâu phải mang trả lại những đồ này sau khi cưới.

"Một món đồ màu xanh" sẽ thể hiện sự tinh khiết, sự trung thực và tình yêu ngập tràn trong hôn nhân.

Cuối cùng, cha cô dâu sẽ trao cho con gái một đồng 6 xu để cô đặt trong chiếc giày bên trái với hy vọng mang may mắn đến cho uyên ương.

8. Nhiều năm trước, cô dâu chú rể thường trao nhau vàng và những đồng bạc, sau đó phong tục này được thay bằng việc trao nhẫn. 

Theo Ngôi Sao

Lời phát biểu trong lễ dạm ngõ được coi là nghi thức cưới quan trọng không thể thiếu trong buổi lễ.

Ý nghĩa của lễ dạm ngõ ngày xưa


Chi phí cho lễ dạm ngõ khoảng bao nhiêu?

Trong các thủ tục để tiến hành đám cưới của các cặp đôi phải tiến hành nhiều bước, lễ dạm ngõ là thủ tục đầu tiên để đi tới lễ thành hôn cho cô dâu và chú rể. Trong đó lời phát biểu trong lễ dạm ngõ được coi là nghi thức cưới quan trọng không thể thiếu trong buổi lễ.


Dạm ngõ là buổi lễ nhỏ trong phạm vi gia đình, thành phần tham dự chủ yếu là người nhà thân thiết, nên không đặt nặng vấn đề lễ nghi, hình thức mà hướng đến bầu không khí thân mật, ấm cúng giữa hai bên. Hai bên nhà trai và nhà gái về cơ bản chỉ gặp gỡ nhau uống nước xơi trà và bàn chuyện định ngày cưới xin.

Trong buổi lễ thì sẽ có lời phát biểu trong lễ dạm ngõ của hai bên nhà trai và nhà gái, người phát biểu của nhà trai có thể mở đầu câu chuyện bằng việc chào hỏi, giới thiệu bản thân và thành viên bên nhà trai sau đó nhà gái cũng giới thiệu và chào hỏi tới mọi người. Tiếp đến là trình bày mục đích của buổi gặp gỡ, trình lễ vật (trầu cau). Sau những nghi thức lễ ban đầu, hai gia đình nên trò chuyện cởi mở, giữ bầu không khí thân tình khi bàn bạc chuyện hôn nhân của uyên ương.

Vì dạm ngõ là buổi lễ nhỏ không quá cầu kì nên thời gian không dài vì vậy đại diện hai gia đình nên chuẩn bị lời phát biểu trong lễ dạm ngõ những câu văn ngắn gọn, súc tích, đề cập thẳng đến vấn đề. Sau đó nhà trai và nhà gái trao lễ vật cho nhau như lời hẹn giữa hai bên. Sau khi đã trao lễ vật, gia đình nhà trai sẽ cử đại diện lên phát biểu trước, trình bày với nhà gái về lý do của buổi lễ cũng như giới thiệu các tráp lễ và nhà gái cũng đáp lại bằng lời cảm ơn.

Tiếp đến nhà gái cũng đáp lại bằng lời phát biểu trong lễ dạm ngõ bằng lời chào, hứa hẹn cũng như lời cảm ơn tới nhà trai.

Lời phát biểu trong lễ dạm ngõ của nhà trai và nhà gái như là sự bắt đầu chấp thuận xem nhà trai, nhà gái trở thành thông gia của mình và coi cô dâu chú rể trở thành người thân trong gia đình.

Từ xưa, kiêng kỵ trong chuyện cưới xin được ông cha ta đúc kết kinh nghiệm qua đời sống đã được truyền bá từ đời này sang đời khác. Nhứng điều kiêng kỵ mà ông cha đã truyền lại không phải là không có căn cứ. Vậy những điều kiêng kỵ đó là gì? Tìm hiểu nhé

>> Kết hôn và chuyện kết hợp với phong thủy

1. Không cưới khi nhà đang có tang



Đám cưới kiêng kỵ khi nhà đang có tang

Con cái trong gia đình phải để tang cha mẹ mình ba năm, cháu để tang ông bà 1 năm. Vì vậy trong thời gian này không thể tổ chức ăn uống vui chơi linh đình, đám cưới thì càng kiêng kỵ.

Do đó mà nếu trong nhà có người trưởng thành đã đến tuổi phải lập gia đình, nếu đợi ba năm sẽ trễ muộn thì phải cưới chạy tang nếu có cha mẹ đau ốm nặng.

Lúc này lễ cưới cũng làm đơn giản, đủ các nghi thức cần thiết dưới sự chứng kiến của những người thân thiết mà thôi. 

2. Không mời cưới khi chưa tổ chức lễ ăn hỏi

Đám hỏi rồi mới cưới xin là những thủ tục bắt buộc. Theo đó, phải sau lễ dạm hỏi thì nhà gái mới được đi mời cưới bạn bè gần xa, nếu mời trước thì bị xem như là vô duyên. Tuy nhiên, quy tắc này lại không áp dụng cho nhà trai.


Ý nghĩa của lễ dạm ngõ ngày xưa



Trước đây, gửi thiệp mời đám cưới trước khi tổ chức ăn hỏi bị xem là vô duyên

Nhưng hiện nay một số cặp đôi tổ chức hỏi và cưới liền nhau chỉ vài ngày nên bắt buộc gia đình gái phải mời khách trước, quan niệm trên vì vậy mà cũng không còn giữ được vị trí như xưa.

3. Không cưới vào năm Kim Lâu

Năm Kim Lâu là năm cô dâu có các số 1,3,6,8 trong tuổi (tính theo cách 9 ô). Quan niệm cho rằng kết hôn vào những năm này sẽ xui xẻo, hôn nhân không được bền vững và may mắn, con cái cũng không được phước lộc… Nhưng bên cạnh đó, một số người lại cho rằng vẫn có thể cưới chồng vào năm này được nếu đã qua ngày đông chí.

4. Cô dâu không được xuất hiện trước khi chú rể vào đón

Cô dâu và chú rể không gặp mặt nhau trước lễ cưới là truyền thống được duy trì nguyên vẹn cho đến ngày nay. Trước khi chú rể vào, tặng hoa và đón cô dâu ra buổi lễ chính thức thì cô dâu phải tránh đi để không bị mất duyên.

5. Không để mẹ đẻ đưa con gái về nhà chồng

Một niềm tin rằng nếu mẹ đẻ đưa con về nhà chồng thì sẽ lấn át đi quyền uy của mẹ chồng. Do đó, thường thì bố cô dâu sẽ là người đưa con sang sông.

6. Không để cô dâu có bầu đi vào nhà từ cửa chính

Rất nhiều gia đình vẫn bắt con dâu đã có thai không được đi vào bằng cửa chính mà phải đi vào cửa sau hoặc bước qua một chậu bồ kết nướng với than. Lý giải điều này để nhằm tránh cho gia đình đằng trai gặp xui xẻo sau này, nhất là trong chuyện làm ăn.

7. Mẹ chồng kiêng chạm mặt con dâu khi đoàn rước dâu vừa về tới nhà

Mẹ chồng phải cầm bình vôi lánh đi khi con dâu bước vào cửa. Ngày nay thì mẹ chồng thường thay bình vôi bằng chùm chìa khóa. Điều này có nghĩa là mẹ chồng tuy đón con dâu vào nhà nhưng vẫn nắm quyền làm chủ trong nhà. Bình vôi hay chùm chìa khóa biểu tượng cho tài sản trong gia đình.

Do đó, mẹ chồng sẽ lánh đi cho đến khi hai họ đã yên vị thì mới xuất hiện để chào hỏi và làm lễ.

8. Lưu ý đem theo kim và tiền lẻ để trải dọc đường

Kim và tiền lẻ được mẹ cô dâu chuẩn bị để cô dâu rải trên đường rước dâu, khi qua ngã ba, ngã tư và cầu, để cầu bình an, hạnh phúc, giàu sang và may mắn sau này cũng như giải trừ xui xẻo.

Thường có khoảng 7 đến 9 chiếc kim được rải trên đường đi.

Một niềm tin khác cũng cho rằng việc mang theo kim còn phòng ngừa để chữa trị cho chú rể nếu bị trúng gió bằng cách đâm vào xương cụt.

9. Kiêng đổ vỡ đồ vật trong đám cưới



Ly vỡ là điềm xấu cho ngày cưới

Đổ vỡ gương, cốc hay gãy đũa là điềm xui xẻo, báo hiệu cho cuộc sống hôn nhân không êm đềm của đôi vợ chồng trẻ. Do đó đồ vật vỡ trong đám cưới là một trong những điều kiêng kỵ.

10. Đầu giường và hai bên thành giường tân hôn không được đối chiếu với gương lớn

Gương lớn đặt ở các vị trí này sẽ gây ảnh hưởng đến sinh hoạt của vợ chồng.

Ngoài ra, giường cưới cũng không được kê ở mé tây của phòng và không kê giường đối diện với cửa ra vào. Vị trí này có thể gây ra lâm lý bất an, đau đầu. Hơn nữa, giường cũng không nên kê dưới xà ngang, tuy nhiên nếu có trần giả che kín thì không sao. 


Thực tế, nhiều cô gái đã tìm thấy người tâm đầu ý hợp ngay trong đám cưới mà mình tham gia, bởi đội bê tráp nam đều là các chàng trai độc thân.

Chọn đội bê tráp đám cưới nên lưu ý gì?


Tìm hiểu mâm lễ tráp ở miền Bắc và miền Nam



1. Đội bê tráp, đỡ tráp truyền thống

Trong lễ ăn hỏi, đội bê tráp, đỡ tráp (miền Nam còn gọi là đội bưng quả) là thành phần không thể thiếu. Gia đình nhà trai sẽ chuẩn bị đội ngũ bê tráp là các chàng trai trẻ tuổi, còn người đỡ tráp của nhà gái là những cô gái trẻ, số lượng người tưng ứng với đội bê tráp nam. Nhiệm vụ của đội ngũ này đúng như tên gọi, đội nam sẽ bưng những tráp quả lễ vật từ nhà trai sang nhà gái và đội nữ thay mặt nhà gái đón nhận mâm tráp.

Yêu cầu quan trọng nhất của đội bưng tráp, đỡ tráp là tất cả các thành viên đều phải là nam thanh nữ tú chưa lập gia đình. Do vậy, trước đây mới sinh ra quan niệm, những chàng trai, cô gái thường xuyên nhận lời đi bê, đỡ tráp cho đám cưới sẽ "mất duyên", sau này khó lập gia đình. Tuy nhiên, đây chỉ là một quan niệm chưa được kiểm chứng và không có căn cứ chính xác.

Nhưng cũng vì quan niệm này mà nhiều cô gái ngại ngần không tham gia đỡ tráp vì lo lắng mình sẽ bị mất duyên. Ngược lại với suy nghĩ này, trong thực tế có nhiều cô gái đã tìm thấy ý trung nhân tâm đầu ý hợp ngay trong đám cưới mà mình tham gia, bởi đội bê tráp nam đều là những chàng trai độc thân, độ tuổi gần sát nhau.

Để các cô gái yên tâm trợ giúp cô dâu chú rể trong ngày cưới, các gia đình cũng đưa ra những giải pháp giữ lại "duyên" cho đội bưng, đỡ tráp bằng cách chuẩn bị những phong bao lì xì có chứa tiền may mắn để hai đội trả lễ cho nhau. Sau khi thủ tục trao tráp quả kết thúc, đội bê tráp nam và đỡ tráp nữ sẽ trao phong bao lì xì cho nhau trước sự chứng kiến của gia đình hai bên. Món tiền nhỏ, mang ý nghĩa tinh thần này hàm ý "lại duyên" cho các chàng trai, cô gái để sau này cuộc sống hôn nhân của họ vẫn trôi chảy, thuận lợi.

Đối với đội đỡ tráp, các cô gái không cần lo lắng tới việc "mất duyên" hay xui xẻo bởi khi tham gia vào đám cưới nào, cô cũng sẽ nhận được tiền mừng lì xì, mang may mắn đến cho mình. Đội ngũ bưng quả, đỡ tráp chỉ cần chú ý khi trao nhận lễ vật không để quả bị đổ hay rơi vỡ, gây mất vui cho buổi lễ ăn hỏi.

2. Phù dâu, phù rể hiện đại

Ở phương Tây, phù dâu, phù rể trong đám cưới là những người quan trọng chỉ sau cô dâu và chú rể. Đó sẽ là những người bạn bè thân thiết nhất của đôi uyên ương, cũng chia làm hai đội, phù dâu hỗ trợ cho nhà gái và phù rể sẽ sát cánh cùng chú rể. Nhiều cô dâu chú rể Việt Nam cũng dần tiếp thu nét văn hoa này và tìm kiếm đội phù dâu, phù rể cho đám cưới của mình, vừa giúp làm đẹp đội hình, vừa trở thành những người hỗ trợ nhiều nhất cho cô dâu chú rể. Nếu đội bê tráp có nhiệm vụ quan trọng trong lễ ăn hỏi thì phù dâu, phù rể sẽ góp mặt trong ngày đãi tiệc cưới.

Cũng như việc đội bê tráp được nhận phong bao lì xì thì cô dâu chú rể cũng nên chuẩn bị những món quà nhỏ tặng phù dâu, phù rể của mình. Đó nên là những vật phẩm mang tính tinh thần, thể hiện tình cảm bạn bè thân thiết, không nhất thiết phải là những đồ vật đắt tiền, tốn kém.

Dù trong lễ ăn hỏi truyền thống hay trong tiệc cưới mang phong cách hiện đại, thì đội bê tráp hay phù dâu, phù rể đều là những người quan trọng đối với đôi uyên ương. Cô dâu chú rể nên gặp mặt, chuyện trò với họ trước khi đám cưới diễn ra để hai bên có thể kết hợp, hỗ trợ hoàn hảo trong ngày cưới.

Nên lựa chọn đội hình bê tráp cưới như thế nào tốt nhất?

Ý nghĩa của lễ dạm ngõ ngày xưa

Tráp ăn hỏi và những ý nghĩa các lễ vật


Quy trình trao mâm quả cưới trong đám hỏi

Trong số những việc quan trọng cho lễ ăn hỏi, cô dâu chú rể không thể không để ý tới đội bê tráp của hai bên gia đình, là những người góp phần giúp lễ ăn hỏi diễn ra suôn sẻ. Việc lựa chọn các thành phần cho đội bê tráp cũng là điều bạn cần lưu ý để ngày vui diễn ra tốt đẹp nhất.



1. Số lượng người bưng quả, đỡ tráp

- Mỗi miền lại có một số lượng mâm quả khác nhau. Vì số lượng người bê tráp, bưng quả phải bằng số lượng mâm lễ vật nên tùy từng tỉnh thành, việc chọn lựa đội bê tráp sẽ khác nhau.

- Tại các tỉnh, thành từ Huế trở ra, nhà trai khi chuẩn bị đám hỏi sẽ phải chuẩn bị tráp lễ vật mà số lượng tráp là lẻ (có thể từ 3 tráp, 5 tráp, tới 11, 15 tráp). Vì vậy miền Bắc thường chọn số người lẻ.

- Ngược lại với truyền thống tại miền Bắc, các gia đình cô dâu miền Nam thường yêu cầu số lượng tráp là chẵn, mà phổ biến nhất là 6 hoặc 8 tráp (số 6 và số 8 biểu tượng cho tài lộc). Vì vậy, số lượng người trong đội bê tráp miền Nam thường là số chẵn.

- Về phía nhà trai, những người bưng mâm lễ vật phải là con trai chưa vợ, ít tuổi hơn chú rể. Về phía nhà gái, số người đỡ tráp phải tương ứng với số nam bưng mâm lễ vật từ nhà trai. Đội đón tráp này phải là con gái chưa chồng và trẻ hơn cô dâu.



2. Chọn chiều cao đội bê tráp

- Các thanh niên, thiếu nữ trong đội bê tráp nên thấp hơn cô dâu chú rể, như vậy sẽ tạo nên một đội hình bê tráp hoàn hảo. Nếu không chọn được những người thấp hơn, đôi uyên ương nên tạo điểm nhấn bằng trang phục để nổi bật.

3. Chú ý trang phục và trang điểm

- Đội bê tráp nhà trai thường mặc áo sơ mi trắng, cà vạt đỏ, quần âu, giày tây. Trang phục của đội bê tráp cũng có thể thay đổi cho phù hợp với sở thích của hai nhà. Có gia đình cầu kỳ chuẩn bị sẵn cùng áo the, khăn xếp, hoặc chỉ đơn giản là áo sơ mi, quần bò, giày thể thao cho đội nam.

- Trang phục của đội nữ đỡ tráp thường thấy là áo dài đỏ, tà áo in họa tiết đơn giản, đi kèm giày cao gót.

- Màu áo dài của đội nữ nên hợp với màu cravat của đội nam. Ví dụ, áo dài đỡ tráp màu đỏ thì cravat đội nam cũng nên là màu đỏ, còn nếu áo dài màu xanh thì cà vạt cũng nên thiên về tông xanh.

- Về trang phục và trang điểm, đội bê tráp nữ cần lưu ý chọn phong cách nhẹ nhàng với mục đích chủ yếu là làm nổi bật cô dâu. Áo dài đội bê tráp nên khác hẳn màu so với áo dài cô dâu. Nếu cô dâu mặc áo dài màu vàng thì chọn màu đỏ cho đội đỡ tráp, cô dâu mặc màu đỏ thì đội đỡ tráp mặc màu hồng, hay xanh.

Theo Ngôi Sao

Mâm đựng lễ vật (hay còn gọi là tráp) là phần không thể thiếu trong mỗi lễ ăn hỏi. Tráp ăn hỏi hai miền khác nhau về số lượng mâm và lễ nhưng có chung ý nghĩa chúc phúc trường tồn cho đôi lứa.

Mâm lễ (tráp) trong lễ ăn hỏi thường có số lượng khác nhau theo phong tục của hai miền. Miền Bắc quan niệm số lẻ là đẹp nên thường chọn 5,7,9,11 tráp còn ngược lại miền Nam ưa chuộng số chẵn nên thường chọn 6,8,10 tráp.

- Miền Bắc lựa chọn số mâm quả lẻ nhưng số lễ trên mâm quả thì nhất thiết phải là số chẵn, luôn đi theo cặp, chẳng hạn như cau thì phải 100 quả, bánh cốm 100 chiếc, mứt sen trần 100 hộp...

Người xưa quan niệm số lẻ tượng trưng cho sự phát triển, còn số chẵn tượng trưng cho việc có cặp có đôi. Vì thế, số lượng mâm quả và lễ vật luôn đi theo số lẻ và số chẵn với ý niệm cầu chúc và mong muốn cho cặp vợ chồng trẻ luôn luôn có nhau và cùng nhau sinh con đàn cháu đống, sống đến đầu bạc răng long.


Tráp của người miền Bắc thường được trang trí cầu kỳ, tỉ mỉ, sính lễ được bày biện thành hình tháp cao, mâm quả được kết rồng phượng.

- Miền Nam chọn số chẵn mà ưa chuộng nhất là số 6 và 8 vì có ý nghĩa lộc - phát theo phiên âm từ tiếng Hán. Trong các tráp, số lượng vật phẩm lại phải là lẻ, biểu tượng cho sự sinh sôi, ngụ ý chúc phúc con cái đề huề cho đôi lứa xứng đôi.

Tráp của người miền Nam thường được đựng trọn trong mâm sơn son thếp vàng, phủ khăn đỏ kín đáo. Dù về số lượng sính lễ cũng tương đương với tráp của miền Bắc song về hình thức trong giản dị và nhẹ nhàng hơn.


Tráp của người miền Nam có sự khác biệt hẳn về hình thức với miền Bắc.

Tráp ăn hỏi bao gồm những gì?

Tráp ăn hỏi của miền Bắc tùy theo số lượng mà thêm bớt các loại sính lễ khác nhau song về cơ bản vẫn phải có 3 tráp chính là:

- Tráp trầu cau

- Tráp chè

- Tráp hạt sen.

Nếu số lượng tráp tăng lên có thể thêm các tráp:

- Tráp bánh cốm/ bánh xu xê/ bánh đậu xanh

- Rượu thuốc

- Hoa quả

- Xôi gấc đậu xanh

- Lợn quay

- Bia lon

Tráp ăn hỏi của người miền Nam cũng tương tự người miền Bắc cũng gồm 4 tráp lễ vật cốt yếu là:

- Tráp trầu cau

- Tráp bánh phu thê (bánh gói lá dứa)

- Tráp lợn quay

- Tráp tiền dẫn cưới (lễ đen)

Ngoài ra tùy theo số lượng tráp tăng lên mà có thêm các lễ vật sau:

- Rượu thuốc

- Hoa quả

- Xôi

- Chè

- Bánh gato

- Tráp sính lễ cho cô dâu. Thông thường nếu nhà trai có điều kiện kinh tế sẽ chuẩn bị một tráp đựng áo dài và đồ trang sức dành riêng cho cô dâu. Trong lễ ăn hỏi, cô dâu sẽ mặc áo dài và trang sức do nhà trai mang đến dành tặng mình. Sau đó mới ra chào hỏi quan họ hai bên và sau đó làm lễ trước bàn thờ tổ tiên.


Tiếp theo phần 1. Cẩm nang cưới hỏi xin giới thiệu các thuật ngữ trong cưới hỏi thường được dùng trong đám cưới Việt. 



Vật dụng, đồ đạc

Nhẫn

Nhẫn đính hôn: theo phong tục phương Tây nam thường quỳ xuống trao nhẫn đính hôn có gắn kim cương cho nữ, đồng thời ngỏ lời cầu hôn. Ở Việt Nam hiện nay cũng có một số trường hợp, do ảnh hưởng của phương Tây, đã lưu tâm hơn đến việc mua sắm nhẫn đính hôn trước khi cưới và thường trao trong lễ ăn hỏi.

Nhẫn cưới: trước kia nhẫn cưới chỉ nhẫn riêng cho nữ. Từ sau thế chiến 2 nhẫn cưới làm theo cặp thường giống nhau hoặc hơi khác nhau nhưng gợi nhớ đến nhau (ví dụ hình thức giống nhau, nhưng nhẫn của nam không gắn đá). Nhẫn được làm bằng kim loại quý (như vàng, bạch kim) trơn hoặc có gắn đá quý chủ yếu là kim cương gắn chìm. Nhẫn được trao vào ngày cưới.

Nhẫn kỷ niệm ngày cưới: nhẫn được các đôi vợ chồng mua nhân kỷ niệm ngày cưới, thường làm giống nhau và có gắn đá quý.

Nhẫn khi làm mẹ: một số nước phương Tây, như vùng Scadinavia phụ nữ thường đeo ba nhẫn trong đó có nhẫn đính hôn, nhẫn cưới và một chiếc nhẫn khi bắt đầu làm mẹ.

Thiệp

Thiệp cưới: thiệp thường làm màu đỏ tuy hiện nay nhiều nơi thiên về các màu nhẹ nhàng hơn như màu hồng, màu kem, màu vàng dịu. Thiệp được trang trí trang nhã và ghi nội dung cô đọng nhưng trang trọng. Thiệp dùng để mời cưới và thường chia thành vài loại tuy hình thức giống nhau nhưng ghi chữ khác nhau: mời khách của cha mẹ vợ, mời khách của cha mẹ chồng (ghi là đến "dự lễ thành hôn của hai con chúng tôi", mời khách của vợ, chồng chỉ ghi đến "dự lễ thành hôn của hai chúng tôi".

Thiệp báo hỉ: Trong trường hợp không mời cưới, đôi dâu rể có thể gửi thiệp báo hỉ để báo tin vui với bà con, bạn bè thân thiết thông báo họ đã là vợ chồng của nhau.

Tư trang

Trang điểm cưới: là thủ tục trang điểm chủ yếu dành cho cô dâu (đôi khi có cả cha, mẹ, chú rể cũng đi trang điểm nhưng không được coi là trang điểm cưới). Mục đích trang điểm nhằm làm tôn vinh vẻ đẹp của cô dâu lộng lẫy nhất trong ngày vu quy trọng đại của cuộc đời. Trang điểm cưới thường tiến hành tại các studio kiêm luôn ba việc: trang điểm, cho thuê váy cưới và chụp ảnh cưới, tuy nhiều khi cô dâu cũng thuê người trang điểm tại nhà. Trang điểm cưới, cũng tương tự như các hình thức trang điểm dành cho những lễ hội cầu kỳ, thường bao gồm làm tóc, kết hoa trên tóc, tô son, đánh phấn.

Váy cưới: làm theo kiểu châu Âu, thông dụng nhất hiện nay là sử dụng màu kem với hoa trang trí nhẹ nhàng. Váy cưới thường được thuê tại các studio chuyên cho thuê, hoặc may.

Áo dài cưới: áo dài cưới thường làm màu đỏ có các chữ song hỷ vàng, thường được cô dâu mặc trong ngày cưới đi kèm khăn xếp. Trong lễ ăn hỏi các cô gái nhận tráp cũng mặc áo dài màu đỏ (có thể có các chữ song hỷ vàng), nhưng không được coi là áo dài cưới và không đội khăn.

Của hồi môn: thường là vàng, tiền hoặc đồ đạc có giá trị được gia đình cha mẹ vợ trao tặng cho con gái khi con gái đi lấy chồng. Tuy nhiên, hiện nay của hồi môn có khi gọi khái quát để chỉ cả những vật dụng có giá trị cha mẹ vợ dành tặng cho chàng rể, hoặc mẹ chồng tặng con dâu trong ngày cưới.




Biểu trưng

Chữ song hỷ: chữ được cắt cách điệu, dán trên tất cả những vật dụng liên quan đến ngày cưới (như các lễ vật), xe hoa, xe đón dâu v.v.

Biểu trưng lễ cưới khác: có thể là đôi chim bồ câu, hình trái tim v.v.

Phòng cưới và giường cưới

Phòng cưới: căn phòng ngủ của hai vợ chồng sau lễ cưới. Trước ngày cưới gia đình thường chuẩn bị đồ đạc trong phòng cưới bao gồm giường cưới, đệm, chăn, ga, gối, bàn phấn, tủ dựng quần áo. Trong ngày cưới phòng được trang trí trang trọng với hoa kết đầu giường, tủ, cánh cửa v.v. Phòng thường không được cho người vào trước thời điểm chú rể đón dâu về. Sau khi chú rể đón dâu về thường thắp hương gia tiên, sau đó cho cô dâu ngồi (nằm) trên giường cưới chụp ảnh một số kiểu ảnh lấy may.

Giường cưới: được các đôi lứa đặc biệt quan tâm chọn mua trước ngày cưới. Giường cưới thường làm gỗ tốt, rộng rãi. Sau khi đã lắp đặt cẩn thận thường người ta tối kỵ di chuyển vị trí của giường, nhất là khi nhà có phụ nữ đang mang thai.

Chiếu cưới: thường mua cả đôi (dù khi trải chiếu chỉ trải một chiếc). Chiếu được một người phụ nữ "mát tay", mắn con, sinh con có cả trai cả gái và nuôi dạy con tốt trải một chiếc lên giường và một chiếc cuộn ở đầu giường. Sau khi trải chiếu, phòng cưới thường được đóng lại để không có người lạ leo lên nghịch ngợm. Hiện nay, song song với trải chiếu cưới là trải chăn, ra giường, gối, đệm. Thủ tục trải chiếu cưới, trong các nghi thức cưới hỏi, được đặc biệt quan tâm.

Gối cưới: trước kia là một gối đôi dài thường được thêu rất cầu kỳ, tinh tế (như đôi chim bồ câu, chữ song hỷ). Nay thường thay bằng hai gối ngắn.

Vật dụng khác

Tráp, mâm hay quả cưới: là các hộp hoặc mâm gỗ sơn son thếp vàng, bày lễ vật trong lễ ăn hỏi hoặc lễ cưới.

Trầu cau theo phong tục cũ của sự tích trầu cau.

Ảnh cưới: trước kia do đời sống còn khó khăn, ảnh cưới chỉ khái quát các ảnh chụp tại lễ cưới nói chung. Hiện nay khái niệm ảnh cưới chỉ còn thiên về ảnh cưới tại các studio chuyên trang điểm, chụp ảnh cưới và cho thuê váy cưới.

Bánh cưới: thường là bánh ga tô được xếp theo tầng, đôi dâu rể sẽ cắt bánh cưới trong lễ cưới, tượng trưng cho lời chúc may mắn, tốt lành trong cuộc sống sau này, nhất là đời sống tình dục và sinh con đẻ cái.

Tháp rượu: tháp xếp ly, có thể cho đá khô tạo khói khi rót rượu. Đôi dâu rể sẽ rót tràn ly trong lễ cưới với một chai rượu Sâm panh, mục đích nhấn mạnh ý nghĩa việc làm chung của hai vợ chồng, sự đồng lòng chung sức trong cuộc sống gia đình sau này.

Xe hoa: là xe nhà trai đưa đến nhà gái đón dâu. Xe hoa đa dạng, theo truyền thống có thể là xe ngựa kéo. Nay chủ yếu là xe ô tô bốn chỗ có kết hoa.

Hoa cưới: gọi chung bó hoa cô dâu cầm (hoa tay) và hoa gắn áo chú rể. Hai loại hoa này thường cùng loại. Trước kia hoa cưới thường có màu trắng tượng trưng cho sự trong trắng của cô dâu, nhưng hiện nay màu sắc của hoa đa dạng hơn. Tuy nhiên, khi đặt hàng hoa kết hoa ngày cưới, hoa cưới được chỉ tất cả các loại hoa: hoa tay, hoa áo chú rể, hoa trang trí phòng cưới, hoa kết trên xe hoa, hoa kết cổng chào với bóng bay, thậm chí cả hoa bày trên các bàn trong tiệc cưới.

Phông cưới: phông trang trí chữ song hỷ, tên tuổi cô dâu chú rể, ngày giờ cưới. Tại nhà gái phông sẽ ghi là "Lễ vu quy". Tại nhà trai ghi: "Lễ thành hôn". Trong lễ báo hỉ phông được ghi dòng chữ "Lễ báo hỉ"

Tiệc cưới: là tiệc tổ chức bên nhà trai và nhà gái, thường là tiệc mặn, tiệc ngọt hoặc tiệc đứng tuy tiệc đứng ít được ưa chuộng.

Họ hàng, người giúp việc

Chú rể, cô dâu: tên gọi đôi trai gái trong ngày cưới hoặc sát ngày cưới. Sau ngày cưới gọi là đôi vợ chồng trẻ.

Thông gia: chỉ cha mẹ họ hàng bên kia, nơi có người đã cưới con nhà mình. Liên quan đến thông gia là những khái niệm cha vợ, mẹ vợ, cha chồng, mẹ chồng, cha đẻ, mẹ đẻ.

Ông mai, Bà mai: những người làm mai mối tác thành cho đôi lứa. Hiện nay, cưới hỏi không còn theo quan niệm cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy nên vai trò của ông mai bà mai đã giảm xuống hoặc không còn cần thiết.

Phù dâu: những cô gái trẻ chưa chồng đi theo cô dâu để giúp cô dâu trong ngày cưới.
Phù rể: những chàng trai trẻ chưa vợ giúp chú rể trong ngày cưới.

Nhà trai: thuật ngữ dùng trong ngày cưới hoặc ngày ăn hỏi chỉ họ hàng bên nhà chú rể.
Nhà gái: chỉ họ hàng bên nhà cô dâu.

Ly hôn

- Ly hôn là chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai vợ chồng;

- Vậy việc ly hôn phải do Tòa án quyết định mới có giá trị pháp lý. Các quyết định của tòa án có thể là Quyết định công nhận thuận tình ly hôn hoặc bản án cho phép ly hôn.

- Đơn xin ly hôn có thể do một trong hai vợ chồng ký (đơn phương) hoặc do cả hai vợ chồng cùng thuận tình ký (thuận tình) đều có giá trị.

- - Việc tòa án chấp thuận cho ly hôn không nhất thiết phải có đủ chữ ký của hai vợ chồng trong đơn ly hôn.

- Khi một trong hai hoặc cả hai vợ chồng muốn ly hôn cấn nộp đơn lên tòa án cấp quận huyện nơi cư trú để xin ly hôn.

Khái niệm khác

Mùa cưới: chỉ mùa trong năm có số lượng đám cưới được tổ chức rất đông. Tùy theo địa phương, mùa cưới thường diễn ra vào thời điểm khí hậu mát lành nhất trong năm. Ở miền Bắc Việt Nam mùa cưới thường là mùa thu hoặc mùa xuân tuy hiện nay các lễ cưới thường diễn ra quanh năm, chỉ hơi ít hơn một chút trong mấy tháng mùa hè.

Ngày cưới: còn gọi là ngày thành hôn, là thuật ngữ chỉ chính xác ngày đón dâu, đưa dâu, và tổ chức lễ thành hôn. Ngày cưới thường được nhà trai xem xét kỹ lưỡng từ trước để chọn ngày tốt. Nhiều gia đình theo phong tục truyền thống trước kia thường tổ chức tiệc mặn vào thời điểm trước ngày cưới để mời khách. Ngày cưới chỉ còn dành cho dâu rể, gia đình, bè bạn thân thiết, nhằm tiến hành các nghi thức và thủ tục theo phong tục cổ truyền và thường không có tiệc mặn, chỉ uống nước, ăn trầu cau và bánh kẹo. Tuy nhiên, hiện nay nhiều gia đình tổ chức có tính kết hợp gọn gàng, ngày cưới bao gồm cả đãi tiệc khách mời tại khách sạn, nhà hàng hoặc gia đình.

Sính lễ: những sản phẩm có giá trị vật chất được nhà trai mang sang nhà gái khi hỏi vợ.

Môn đăng hộ đối: theo quan niệm của hôn nhân thời phong kiến, môn đăng hộ đối chỉ gia đình nhà trai, nhà gái tương xứng với nhau về mặt địa vị xã hội và tài sản, đều là gia đình quyền quý và giàu có như nhau.


Tỏng hợp

Đám cưới

[Dam-cuoi][fbig1]

Đám hỏi

[Dam-hoi][fbig2]

Kế hoạch đám cưới

[Ke-hoach-cuoi][fbig1]

Nhà hàng tiệc cưới

[Nha-hang-tiec-cuoi][hot]

Nghi thức đám cưới

[Nghi-thuc-dam-cuoi][fbig1]

Author Name

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.